Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/DS-ST

Ngày 15 - 4 - 2024

“V/v tranh chấp hợp đồng

dân sự, vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng, bà Ngô Thị Lệ Thi.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 193/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 07/TB-MLPT ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1960, nơi cư trú: Tổ 27, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang, (có mặt).

  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1971, nơi cư trú: Tổ D, đường T, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, (bà Q có mặt, ông K vắng mặt).

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966, nơi cư trú: Số D, đường N, tổ E, khóm F, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, (vắng mặt, có yêu cầu xét xử văng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Thành L trình bày:

Ngày 26/7/2022, ông Nguyễn Thành L có cho ông Nguyễn Văn K vay 100.000.000 đồng, có bà Nguyễn Thị T bảo lãnh. Ngày 09/7/2023, ông L cho bà Nguyễn Thị Q (vợ ông K) vay 80.000.000 đồng và ngày 09/7/2023, bà Q vay thêm 40.000.000 đồng, các lần vay đều có lập biên nhận nợ, tổng cộng nợ vay là 220.000.000 đồng. Nay ông L khởi kiện yêu cầu ông K, bà Q và bà T cùng có trách nhiệm liên đới trả số nợ 220.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn ông L cung cấp: Biên nhận ngày 26/7/2022; Biên nhận ngày 27/9/2022 và Biên nhận ngày 09/7/2023 (đã đối chiếu với bản chính).

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Qui trình bày: Do quen biết nhiều năm nên ông L cho vợ chồng ông K, bà Q vay tiền nhiều lần, ngày 26/7/2022 vay 100.000.000 đồng, ngày 27/9/2022 vay 80.000.000 đồng, tổng cộng 180.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, không thỏa thuận thời hạn trả. Do không đóng lãi đúng hạn nên ông L yêu cầu bà Q viết biên nhận vay ngày 09/7/2023, số tiền 40.000.000 đồng. Bà Q đồng ý trả số nợ 220.000.000 đồng nhưng xin được trả trong thời hạn 01 năm. Do ông K bận đi làm nên không thể đến Tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành đối chất và hòa giải giữa các đương sự nhưng ông K, bà T vắng mặt nên không đối chất và hòa giải được.

Tại phiên tòa,

  • - Nguyên đơn ông L xác định bà T sinh năm 1966, nơi cư trú nơi cư trú: Số D, đường N, tổ E, khóm F, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, về lãi suất cho vay là 3%/tháng nhưng ông K, bà Q đóng lãi không đầy đủ. Vì vậy, yêu cầu ông K, bà Q có trách nhiệm liên đới trả số nợ 220.000.000 đồng, rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà T về số nợ 120.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bà T cùng có trách nhiệm trả số nợ 100.000.000 đồng.

  • - Bị đơn bà Q thừa nhận thông qua bà T giới thiệu nên vợ chồng bà có vay tiền của ông L số tiền 180.000.000 đồng, đối với 40.000.000 đồng là tiền lãi chưa đóng nên tổng cộng nợ 220.000.000 đồng, mục đích vay để chơi hụi và buôn bán. Bà Q đồng ý trả số nợ nêu trên nhưng xin được trả vào cuối tháng 02/2025, không yêu cầu bà T liên đới trả nợ.

  • - Ý kiến của Kiểm sát viên:

    Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Riêng bị đơn ông K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T không tham gia trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên xem như từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình.

  • + Về giải quyết vụ án: Các biên nhận đề ngày 26/7/2022, ngày 27/9/2022 và ngày 09/7/2023 thể hiện ông K, bà Q có nhận của ông L số tiền 220.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà Q thừa nhận vợ chồng có vay tiền của ông L để chơi hụi và buôn bán, đồng ý trả nợ nhưng xin được trả vào tháng 02/2025. Từ đó có cơ sở xác định, ông K, bà Q có vay của ông L 220.000.000 đồng, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ông L khởi kiện là có căn cứ.

  • Đối với yêu cầu bà T liên đới trả nợ, biên nhận nợ ngày 26/7/2022 có chữ viết và ký tên của bà T nhưng không có nội dung thể hiện bà T ký biên nhận với tư cách bảo lãnh và việc bảo lãnh như thế nào đối với khoản vay. Ngoài lời khai, ông L không chứng minh được bà T bảo lãnh khoản vay của ông K, bà Q nên yêu cầu bà T liên đới trả số nợ 100.000.000 đồng là không có cơ sở.

  • Theo qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi suất các bên thỏa thuận là 3%/tháng cao hơn so với quy định pháp luật, lẽ ra khấu trừ vào vốn vay nhưng bị đơn thống nhất còn nợ 220.000.000 đồng, không yêu cầu xem xét khấu trừ nên không đặt ra xem xét.

  • Ông L rút lại yêu cầu khởi kiện bà T về liên đới cùng ông K, bà Q trả số nợ 120.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của ông L nên đề nghị đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông L.

  • Từ phân tích trên, căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông K, bà Q có nghĩa vụ trả cho ông L 220.000.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu của ông L về việc bà T liên đới trả số nợ 120.000.000 đồng, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông L về việc buộc bà T liên đới trả số nợ 100.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

  1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Thành L khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Q trả nợ vay. Bị đơn ông K, bà Q có nơi cư trú tại tổ D, đường T, khóm V, phường V, thành phố C nên yêu cầu kiện khởi kiện của ông L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  2. Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông K vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, ông K, bà T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không cung cấp lời khai, trình bày ý kiến và tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên xem như ông K, bà T đã tự từ bỏ quyền tố tụng của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông K, bà T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

  1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành L:

    1. Về yêu cầu ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Q liên đới trả nợ: Theo các biên nhận nợ ngày 26/7/2022 số tiền vay 100.000.000 đồng được lập giữa ông L và ông K, biên nhận nợ ngày 27/9/2022, số tiền vay 80.000.000 đồng và biên nhận nợ ngày 09/7/2023 số tiền vay 40.000.000 được lập giữa ông L và bà Q, cùng lời khai thừa nhận của bà Q về việc vợ chồng bà có vay tiền của ông L để chơi hụi và buôn bán, xin được số nợ 220.000.000 đồng vào tháng 02/2025. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

      Xét thấy, hợp đồng vay tiền giữa ông L và ông K, bà Q được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, nội dung không trái pháp luật, đạo đức xã hội, các bên tham gia đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Ông K, bà Q là vợ chồng, vay tiền của ông L để chơi hụi, mua bán, phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Vì vậy, ông L khởi kiện yêu cầu ông K, bà Q có trách nhiệm liên đới trả nợ vay 220.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

    2. Về yêu cầu bà Nguyễn Thị T liên đới trả nợ: Tại phiên tòa, ông L tự nguyện rút lại yêu cầu bà T liên đới trả số nợ 120.000.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện của ông L và phù hợp quy định pháp luật. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông L.

      Đối với yêu cầu bà T liên đới trả số nợ 100.000.000 đồng. Xét thấy, theo biên nhận nợ ngày 26/7/2022, mặc dù có chữ ký và chữ viết họ tên của bà T nhưng không thể hiện được nội dung bà T bảo lãnh, cam kết cùng trả nợ với ông K. Ngoài biên nhận này, ông L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác. Do đó, chưa đủ cơ sở để buộc bà T có trách nhiệm liên đới trả nợ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của ông L.

  2. Về phương thức thanh toán: Bà Q có yêu cầu được trả nợ vào cuối tháng 02/2025 nhưng không được ông L chấp nhận nên không có cơ sở để xem xét giải quyết.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông K, bà Q có trách nhiệm trả nợ nên phải chịu 11.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (220.000.000 đồng x 5%).

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

  • - Điều 147, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

  • - Điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành L đối với yêu cầu bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm liên đới trả số nợ 120.000.000 đồng.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành L: Buộc ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Q cùng có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguyễn Thành L số tiền 220.000.000 (hai trăm hai mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông L về việc buộc bà T cùng có trách nhiệm liên đới trả số nợ 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Nguyễn Thành L là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí nên không phải nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Q phải chịu 11.000.000 đồng (mười một triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Nguyễn Thành L, bà Nguyễn Thị Q có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị T là 15 ngày, kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TPCĐ (1);
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang (1);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/DS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản

  • Số bản án: 13/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger