Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/DS-ST

Ngày: 15 – 04 – 2024

“Về việc tranh chấp về hợp đồng

dân sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Ngọc Hữu.

2. Ông Lưu Xuân Vĩnh .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2024/TLST-DS ngày 31/01/2024, về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty T (Sau đây viết tắt là Công ty T); trụ sở tại: Lầu A, Tòa nhà C, số G đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn Công ty T: Ông Taniguchi B, sinh ngày 17/06/1964, quốc tịch: Nhật bản; chức vụ: Tổng giám đốc Công ty T. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T: anh Lê Hoàng P, sinh năm 1996; địa chỉ: Lầu A, Tòa nhà C, số G đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: chị Hoàng Thị Đình D, sinh năm 2003; nơi cư trú: Xóm E, Thôn B, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo đơn khởi kiện và lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Công ty T do anh Lê Hoàng P đại diện hợp pháp trình bày:

Ngày 22/08/2022, Công ty T và bị đơn chị Hoàng Thị Đình D đã xác lập, thực hiện hợp đồng tín dụng theo Văn bản hợp đồng tín dụng số 30150003052286000, ngày 22/08/2022. Theo đó, Công ty T cho chị D vay số tiền 32.100.000đồng; thời hạn vay là 20 tháng; mức lãi suất trong hạn là 3.7375%/tháng, mức lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn; kỳ hạn trả tiền vay theo tháng, trước hoặc trong ngày 22 hàng tháng, mức thanh toán mỗi kỳ là 2.319.399đồng (gốc + lãi + phí); mục đích vay để mua xe mô tô. Từ ngày 22/09/2022 đến ngày 03/10/2023, chị D đã thanh toán cho Công ty T được 30.199.608 đồng, trong đó gồm 18.090.886đồng tiền gốc, 11.905.301đồng tiền lãi trong hạn, 47.421 đồng tiền lãi quá hạn và 156.000đồng tiền phí quản lý khoản vay. Từ sau ngày 03/10/2023 đến nay, mặc dù Công ty T đã nhiều lần yêu cầu nhưng chị D không thanh toán thêm tiền vay. Vì vậy hiện nay Công ty T yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

- Buộc bị đơn chị D phải thanh toán cho nguyên đơn Công ty T tổng số tiền 18.791.281 đồng; trong đó gồm 14.009.114đồng tiền vay gốc, 3.568.980 đồng tiền lãi trong hạn, 1.129.187đồng tiền lãi quá hạn và 84.000đồng tiền phí tính đến ngày 15/04/2024.

- Buộc bị đơn chị D phải trả nguyên đơn Công ty Jaccs tiền lãi, tiền phí phát sinh từ sau ngày 15/04/2024 cho đến khi trả hết tiền nợ vay, với mức lãi suất, mức phí thỏa thuận trong hợp đồng.

Ngoài ra Công ty T không có yêu cầu nào khác trong vụ án.

[2] Theo lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, bị đơn chị Hoàng Thị Đình D trình bày:

Ngày 22/08/2022, nguyên đơn Công ty T và bị đơn chị Hoàng Thị Đình D đã xác lập thực hiện hợp đồng tín dụng theo Văn bản hợp đồng tín dụng số 30150003052286000, ngày 22/08/2022; nội dung hợp đồng chị D trình bày như bên nguyên đơn đã trình bày nêu trên. Từ ngày 22/09/2022 đến ngày 03/10/2023, chị D đã thanh toán cho Công ty T được 30.199.608 đồng, trong đó gồm 18.090.886đồng tiền gốc, 11.905.301 đồng tiền lãi trong hạn, 47.421đồng tiền lãi quá hạn và 156.000đồng tiền phí quản lý khoản vay. Từ sau ngày 03/10/2023 đến nay, chị D sinh con và phải nuôi con nhỏ, không đi làm việc được nên không có tiền trả cho Công ty T. Chị D xác nhận hiện nay chị D còn nợ Công ty Jaccs các khoản tiền đúng như Công ty T đã khởi kiện, yêu cầu. Chị D chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T và không có yêu cầu nào trong vụ án.

[3] Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

- Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 Văn bản hợp đồng tín dụng số 30150003052286000, ngày 22/08/2022, toàn bộ hồ sơ vay theo hợp đồng tín dụng này và 01 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của Công ty T.

[5]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:

Ý kiến về việc tuân theo Pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T: buộc chị Hoàng Thị Đình D có nghĩa vụ trả cho Công ty T tổng cộng 18.791.281đồng; buộc chị Hoàng Thị Đình D phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án; trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Công ty T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện T, tỉnh Bình Thuận đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

[2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết và áp dụng pháp luật:

Trong vụ án, chỉ có yêu cầu của nguyên đơn Công ty T yêu cầu giải quyết buộc bị đơn chị Hoàng Thị Đình D trả tiền vay gốc và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã xác lập vào ngày 22/08/2022; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 là phù hợp.

Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về yêu cầu trả 14.009.114 đồng tiền vay gốc của nguyên đơn Công ty T; Hội đồng xét xử nhận định:

Các đương sự đều thừa nhận: ngày 22/08/2022, nguyên đơn Công ty T và bị đơn chị Hoàng Thị Đình D đã xác lập thực hiện hợp đồng tín dụng theo Văn bản hợp đồng tín dụng số 30150003052286000, ngày 22/08/2022 mà nguyên đơn Công ty T đã cung cấp; Công ty T cho chị D vay số tiền 32.100.000đồng; thời hạn vay là 20 tháng; tính đến ngày 03/10/2023, chị D đã thanh toán cho Công ty T được 18.090.886đồng tiền vay gốc; từ sau ngày 03/10/2023, chị D không trả tiền vay; hiện nay chị D còn nợ Công ty T 14.009.114đồng tiền vay gốc. Đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó có đủ căn cứ xác định được: nguyên đơn Công ty

T và bị đơn chị Hoàng Thị Đình D đã xác lập, thực hiện hợp đồng tín dụng như nội dung nêu trên và hiện nay chị D còn nợ Công ty T 14.009.114đồng tiền vay gốc. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; bị đơn chị D có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty T 14.009.114 đồng tiền vay gốc còn nợ. Hơn nữa trong quá trình tố tụng, các đương sự đều trình bày thống nhất: chị D có nghĩa vụ trả cho Công ty T 14.009.114đồng tiền vay gốc này. Vì vậy, yêu cầu của Công ty T về việc trả tiền vay gốc là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463 và khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015 nên cần chấp nhận. Do đó, cần xử buộc bị đơn chị D có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty T 14.009.114đồng tiền vay gốc.

[3.2] Về yêu cầu trả tiền lãi, tiền phí của nguyên đơn Công ty T với tổng số tiền 4.782.167 đồng; Hội đồng xét xử nhận định:

Các bên đương sự đều thừa nhận: trong hợp đồng tín dụng xác lập theo Văn bản hợp đồng tín dụng số 30150003052286000 ngày 22/08/2022; các bên thỏa thuận mức lãi suất trong hạn là 3.7375%/tháng, mức lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kỳ hạn trả tiền lãi theo tháng, trước hoặc trong ngày 22 hàng tháng, chị D chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay từ sau ngày 03/10/2023. Đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó có căn cứ xác định được trong hợp đồng tín dụng, các bên đã thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, mức lãi suất quá hạn như nêu trên và thời điểm chị D chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là từ ngày 04/10/2023. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 357 và khoản 5 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; chị D có nghĩa vụ trả tiền lãi cho Công ty T với mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng, tương ứng với thời gian chậm trả. Hơn nữa, trong quá trình tố tụng, các đương sự đều trình bày thống nhất: chị D có nghĩa vụ trả cho Công ty T toàn bộ các khoản tiền lãi, tiền phí phát sinh theo hợp đồng như nguyên đơn Công ty T yêu cầu. Vì vậy, yêu cầu trả tiền lãi, tiền phí của Công ty T phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 357, 463, khoản 5 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2017, khoản 1 Điều 13 và Điều 14 Thông tư số 08/VBHN-NHNN ngày 12/07/2023 của Ngân hàng N nên cần chấp nhận. Do đó, cần xử buộc bị đơn chị D có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty T tổng tiền lãi và phí là 4.782.167 đồng; trong đó gồm 3.568.980đồng tiền lãi trong hạn, 1.129.187đồng tiền lãi quá hạn và 84.000đồng tiền phí.

[3.3] Về án phí:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T được chấp nhận toàn bộ. Do đó cần căn cứ khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: xử buộc bị đơn chị Hoàng Thị Đình D có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án; trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn Công ty T.

[4] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đề nghị xử buộc chị Hoàng Thị

Đình D có nghĩa vụ trả cho Công ty T Jaccs tổng số tiền 18.791.281 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, các Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 357, 463, khoản 5 Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015;
  • - Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2017;
  • - Khoản 1 Điều 13 và Điều 14 Thông tư số 08/VBHN-NHNN ngày 12/07/2023 của Ngân hàng N;
  • - Điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T;

    Buộc chị Hoàng Thị Đình D có nghĩa vụ trả cho Công ty T Jaccs tổng số tiền là 18.791.281đồng (Mười tám triệu bảy trăm chín mươi mốt ngàn hai trăm tám mươi mốt đồng).

  2. Về án phí: Buộc chị Hoàng Thị Đình D có nghĩa vụ nộp 940.000đồng (Chín trăm bốn mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Công ty T Jaccs 395.000đồng (Ba trăm chín mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005680, ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
  3. Về nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày 16/04/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 5,60625%/tháng (mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng).

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4] Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai. Nguyên đơn, bị đơn đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - Các đương sự;
  • - CC THADS h.Tánh Linh;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/DS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 13/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa công ty Jaccs và Hoàng Thị Đình D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger