Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T

TỈNH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST

Ngày 14/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Sơn và ông Nguyễn Văn Phần.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh P tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với Bị cáo:

  1. Họ và tên: Hà Thị Kim T (tên gọi khác: Không);
  2. Sinh ngày 09 tháng 4 năm 1981, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi ĐKNKTT: Thôn Y, xã T, huyện B, Thành Phố Hà Nội;

    Nơi tạm trú và chỗ ở hiện tại: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mường;

    Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

    Con ông: Hà Văn C (đã chết) và bà: Hà Thị P (đã chết);

    Chồng: Đặng Quốc H, sinh năm 1979;

    Con: Có 02 con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006);

    Tiền án/tiền sự: Không.

    Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến ngày 19/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt tại phiên tòa).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  4. Anh: Nguyễn Văn S, sinh ngày 20/02/2000 (vắng mặt);

    Địa chỉ: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

    Anh: Hoàng Văn T1, sinh ngày 22/10/1994 (vắng mặt);

    Địa chỉ: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 14/3/2024, Nguyễn Văn S, cùng Hoàng Văn T1, đến quán bán gia cầm của Hà Thị Kim T thuộc khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, tại đây, các đối tượng ngỏ ý muốn ghi số lô, đề, T đồng ý, yêu cầu S, T1 nhắn tin số cần mua vào số điện thoại cho T.

S dùng điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S Plus màu xám, sim số 0898915490, nhắn tin dạng SMS đến số 0394598232 nội dung: Lô 55, 44 mỗi con 100 điểm, đề 44 200k. Tổng số tiền S ghi lô, đề là: 4.800.000VNĐ (bốn triệu tám trăm nghìn đồng).

Hoàng Văn T1 dùng điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu ghi đã cũ, sim số 0362215912, nhắn tin dạng SMS đến số 0394598232 nội dung: Đề 19, 91 mỗi con 250k. Tổng số tiền T1 ghi đề là 500.000VNĐ (năm trăm nghìn đồng).

Sau khi, S, T1 đưa tiền cho T, Bị cáo nhận tiền, cất vào túi quần bên trái của mình thì Cơ quan CSĐT – Công an huyện T phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ số tiền 5.300.000VNĐ (năm triệu ba trăm nghìn đồng) cùng điện thoại di động của T, S, T1, đồng thời đưa các đối tượng về trụ sở Công an huyện T để làm rõ hành vi phạm tội.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn S, Hoàng Văn T1, Hà Thị Kim T đã khai nhận hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề của mình như đã nêu trên. Việc ghi số lô, đề được các bên quy ước như sau:

  • Đối với số đề: Người ghi đề lựa chọn các số bất kỳ từ 00 đến 99, kết quả sẽ so với hai số cuối giải đặc biệt của xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày hôm đó;
  • Đối với số lô: Lựa chọn các số bất kỳ từ 00 đến 99, so theo hai số cuối của tất cả các giải với kết quả xổ số Miền Bắc ngày hôm đó.

Nếu người ghi số đề trúng thì tỷ lệ cá cược 01 ăn gấp 70 lần, nếu người ghi lô trúng thì tỷ lệ ăn 1 điểm lô 23.000VNĐ (hai mươi ba nghìn đồng) ăn 80.000VNĐ (tám mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đều đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

2. Các vấn đề khác:

Ngày 19/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố Bị can đối với Hà Thị Kim T về hành vi đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Ngày 20/5/2024, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn T1Nguyễn Văn S về hành vi đánh bạc.

3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại Bản cáo trạng số: 14/CT-VKS-TS ngày 28/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo: Hà Thị Kim T, về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm a, khoản 1, khoản 3, Điều 35 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Hà Thị Kim T;
  • Xử phạt Bị cáo Hà Thị Kim T từ 20.000.000VNĐ (hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000VNĐ (ba mươi triệu đồng).
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Hà Thị Kim T;
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Bị cáo T theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 17/LCĐKNCT – TA ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.300.000VNĐ (năm triệu ba trăm nghìn đồng);
  • Tịch thu, bán sung ngân sách nhà nước 03 (ba) chiếc điện thoại di động, gồm: 01 (một) chiếc nhãn hiệu OPPOA15, màu xanh đen đã cũ; 01 (một) chiếc nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu xám đã cũ, màn hình bị nứt vỡ; 01 (một) chiếc nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS màu xám đã cũ, góc bên trái màn hình bị nứt vỡ;
  • Tịch thu, tiêu hủy 03 sim điện thoại, gồm các số: 0898.915.xxx (thu của Hoàng Văn S1), 0394.598.232 (thu của Hà Thị Kim T), 0362.215.912 (thu của Hoàng Văn T1).

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, cho Bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội.

Tại phiên tòa hôm nay Bị cáo: Hà Thị Kim T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; thừa nhận Bản cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai của Bị cáo thống nhất, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ của vụ án.

Do đó, đủ căn cứ xác định: Vào hồi 18 giờ 10 phút ngày 14/3/2024, tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T bắt quả tang Hà Thị Kim T có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, đề cho Nguyễn Văn S với số tiền là 4.800.000VNĐ (bốn triệu tám trăm nghìn) và bán số đề cho Hoàng Văn T1 là 500.000VNĐ (năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền T đã bán số lô, đề và phải chịu trách nhiệm hình sự là 5.300.000VNĐ (năm triệu ba trăm nghìn đồng).

Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc trái phép trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng nhưng vì mục đích lợi nhuận vẫn cố ý thực hiện.

Từ các nhận định trên đã đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo Hà Thị Kim T thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015;

Tại khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

  • Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án tuy là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của Bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  • Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình 02 tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên quyết định áp dụng hình phạt tiền trên mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định, đồng thời nằm trong khung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của BLHS năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Đối với Bị cáo T do áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, nên không áp dụng là hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

[4] Đối với Nguyễn Văn S và Hoàng Văn T1:

Ngày 14/3/2024, S, T1 có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số lô, số đề, vi phạm vào Khoản 1, Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Số tiền T1S sử dụng để đánh bạc chưa đủ định lượng cấu thành tội danh “Đánh bạc”. Mặt khác, T1S không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc và tổ chức đánh bạc, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã chuyển tài liệu đến Công an huyện T xử phạt theo đúng thẩm quyền. Ngày 20/5/2024 Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn SHoàng Văn T1 mức phạt tiền: 500.000VNĐ (năm trăm nghìn đồng) là có căn cứ và phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng:

Số tiền 5.300.000VNĐ (năm triệu ba trăm nghìn đồng) là số tiền Bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;

03 (ba) chiếc điện thoại di động, gồm: 01 (một) chiếc nhãn hiệu OPPOA15, màu xanh đen đã cũ; 01 (một) chiếc nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu xám đã cũ, màn hình bị nứt vỡ; 01 (một) chiếc nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS màu xám đã cũ, góc bên trái màn hình bị nứt vỡ, đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, bán sung ngân sách Nhà nước;

03 (ba) sim điện thoại, gồm các số: 0898.915.xxx (thu của Hoàng Văn S1), 0394.598.232 (thu của Hà Thị Kim T), 0362.215.912 (thu của Hoàng Văn T1), là công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ kết tội:

  • Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm a, khoản 1, khoản 3, Điều 35 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Hà Thị Kim T.
  • Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị Kim T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt, biện pháp tư pháp:

  • Xử phạt Bị cáo: Hà Thị Kim T số tiền 25.000.000VNĐ (hai mươi lăm triệu đồng).
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Bị cáo T theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 17/LCĐKNCT – TA ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

3. Về xử lý vật chứng:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.300.000VNĐ (năm triệu ba trăm nghìn đồng) là số tiền Bị cáo dùng vào việc đánh bạc;
  • Tịch thu, bán sung ngân sách Nhà nước 03 (ba) chiếc điện thoại di động, gồm: 01 (một) chiếc nhãn hiệu OPPOA15, màu xanh đen đã cũ; 01 (một) chiếc nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu xám đã cũ, màn hình bị nứt vỡ; 01 (một) chiếc nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS màu xám đã cũ, góc bên trái màn hình bị nứt vỡ là công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Tịch thu, tiêu hủy 03 (ba) sim điện thoại, gồm các số: 0898.915.xxx (thu của Hoàng Văn S1), 0394.598.232 (thu của Hà Thị Kim T), 0362.215.912 (thu của Hoàng Văn T1), là công cụ, phương tiện phạm tội.

Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn ngày 31/5/2024.

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Buộc Bị cáo Hà Thị Kim T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • VKSND huyện, tỉnh;
  • Sở Tư pháp tỉnh;
  • CQ CSĐT Công an huyện;
  • CQ THA dân sự huyện;
  • UBND xã nơi b/c thường trú;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tân Khải Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH P về tội đánh bạc

  • Số bản án: 13/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH P
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Hà Thị Kim T- Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger