Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12 tháng 7 năm 2024

V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Bá Thị và ông Nguyễn Đức Nghị.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Thực - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Lang Quốc P, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Chị Hà Thị V, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Nguyên đơn, Bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/5/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn anh Lang Quốc P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 24/7/2007, anh Lang Quốc P với chị Hà Thị V kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, sau đó cuộc sống chung bắt đầu mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Từ năm 2010 đến nay chị V về quê sinh sống tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nay xét tình cảm không còn, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên anh P làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hà Thị V.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh P, chị V có một con chung là cháu Lang Hà G, sinh ngày 14/5/2008. Hiện cháu đang ở cùng chị V, khi vợ chồng ly hôn, chị V sẽ nuôi dưỡng con chung.

1

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Hà Thị V tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án chị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị V xác nhận về thời gian vợ chồng kết hôn, chung sống, ly thân và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như anh P trình bày trong đơn khởi kiện và bản tự khai là đúng. Nay anh P xin ly hôn, chị đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung, cháu tên là Lang Hà G, sinh ngày 14/5/2008. Hiện cháu đang ở cùng chị, khi vợ chồng ly hôn chị sẽ nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Việc nhận đơn, thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án nên đây là vụ án không tiến hành hoà giải được. Thẩm phán đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Nguyên đơn và Bị đơn đúng theo khoản 5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn, Bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Anh P, chị V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh P, chị V là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh P.

Về con chung: Anh P, chị V có một con chung là cháu Lang Hà G, sinh ngày 14/5/2008 hiện đang ở cùng chị V, khi ly hôn anh P đồng ý để chị V nuôi dưỡng con chung nên giao cháu G cho chị V nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 1,2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn và nhân gia đình.

Đối với tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Anh P, chị V không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào anh P, chị V có yêu cầu thì anh, chị có quyền làm đơn đề nghị giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định.

2

Về án phí dân sự: Anh Lang Quốc P phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiên phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Anh Lang Q có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cho anh được ly hôn với chị Hà Thị V, sinh năm 1984; trú tại: Khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Quá trình giải quyết vụ án, anh P có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án. Vì vậy, Tòa án xác định vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh P, chị V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh P, chị V trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Năm 2007 hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã làm rõ hiện vợ chồng anh, chị đã ly thân, không quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh P, chị V đã đến mức trầm trọng, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của anh P đối với chị V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình.

[3]. Về con chung: Anh P, chị V có một con chung là cháu Lang Hà G, sinh ngày 14/5/2008. Hiện cháu G đang ở cùng chị V, khi vợ chồng ly hôn, chị Vấn đề n được nuôi dưỡng con chung và anh P cũng đồng ý để chị V nuôi dưỡng cháu G nên cần ghi nhận sự tự nguyện này là phù hợp. Chị V không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.

[4]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh P, chị V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này anh P, chị V có yêu cầu thì anh; chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.

[5]. Về án phí: Anh P phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

[6]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên, là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

3

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; 57; khoản 1, 2 Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh L Quốc Phòng được ly hôn chị Hà Thị V.

Về con chung: Giao cho chị Hà Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lang Hà G, sinh ngày 14/5/2008 kể từ tháng 7 năm 2024 đến khi cháu G thành niên. Anh Phòng không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Anh Lang Quốc P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh P đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0004661 ngày 06/6/2024.

Về quyền kháng cáo: Anh P, chị V có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Sơn;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đinh Văn Chí

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh P khởi kiện ly hôn với chị V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger