|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày: 12/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phú Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Quang và bà Lò Thị Sai.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H'Drai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Dân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử hình sự, Toà án nhân dân huyện Ia H'Drai đã đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 27/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 5 năm 1974 tại tỉnh Quảng Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi tạm trú: Làng Bi, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1944, hiện sinh sống tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Gia đình bị cáo có sáu anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Tống Thanh T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Làng K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai (có mặt);
Người chứng kiến: Ông Y Hiêng Niê K, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 17/01/2024 Nguyễn Văn N (Sinh năm: 1974, tạm trú tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai) điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 81R4-5859 đi từ xã I, huyện I vào khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum để làm rẫy điều. Khi đi đến khu vực có toạ độ 13,944°B - 107,454°Đ thuộc Ô, Lô A, Tổ C, Nông trường I, Công ty C2, N phát hiện tại gốc cây cao su có 03 bì nilong màu đen, tất cả được buộc thắt nút lại, mở ra kiểm tra thì phát hiện trong bì thứ nhất có 03 hộp giấy kín, mỗi hộp bên ngoài có ghi chữ, ký tự nước ngoài và hoa văn sặc sỡ, mỗi hộp có ký hiệu C0834; Bì thứ hai có 02 hộp có kích thước và đặc điểm như 03 hộp trong bì thứ nhất; Bì thứ ba có 01 hộp có kích thước và đặc điểm như các hộp nói trên.
Lúc này N biết tất cả đều là pháo hoa nên đã nảy sinh ý định lấy cất giấu và mang về nhà để sử dụng dịp tết Nguyên đán năm 2024 nên đã buộc lại nguyên hiện trạng và bỏ tất cả vào trong cốp xe máy rồi khoá lại, sau đó đi bộ đến rẫy điều của mình cách đó khoảng 3 - 4m, một lúc sau N đi ra xe và điều khiển về chổ ở tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Khi đi đến khu vực có toạ độ 545262 - 767925 thuộc thôn H, xã I thì bị Tổ công tác Công an huyện I phối hợp cùng Đồn Biên phòng S, Công an xã I kiểm tra phát hiện toàn bộ số pháo hoa trên. Tổ công tác tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật, phương tiện đồng thời đưa người, tang vật, phương tiện liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số 153/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh G xác định: 06 (sau) hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0834” bên trong mỗi hộp có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau đều là Pháo hoa nỗ, tổng khối lượng 8,2kg.
Ngày 21/03/2024 Cơ quan CSĐT- Công an huyện I ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan CSĐT - Công an huyện I bị can Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKS-Ia H'Drai ngày 27 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H'Drai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 bao tải xác rắn màu đỏ được niêm phong, bên ngoài có các dấu hình tròn, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T1, Nguyễn Thành L1 và Nguyễn Đình C1, bên trong gồm: 04 (bốn) hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0834” có tổng khối lượng 5,4 kg (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 19/01/2024) và 03 (ba) bì nilong đã qua sử dụng.
Đối với 01 xe mô tô BKS: 81R4 - 5859 nhãn hiệu HONDA, loại xe LEAD màu vàng – đen. Quá trình điều tra, xác minh chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của ông Tống Thanh T cho bị cáo mượn để phục vụ sinh hoạt và đi làm rẫy. Ông T không biết việc N tự ý sử dụng xe của mình để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông Tống Thanh T là có căn cứ nên không đề cập. Ngoài ra bị cáo còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn N thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không ý kiến tranh luận gì. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đều không bị mớm cung, ép cung hay dùng nhục hình buộc phải nhận tội.
Lời khai của người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa đúng với những gì đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện I.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất ăn năn hối lỗi, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện I, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên huyện I trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người chứng kiến là ông Y Hiêng Niê K vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào sáng ngày 17/01/2024, tại thôn H xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum bị cáo đã có hành vi tàng trữ pháo hoa nổ trái pháp luật với mục đích sử dụng vào dịp Tết nguyên đán năm 2024, với tổng khối lượng 8,2kg (kilogram). Như vậy, tổng hợp hành vi và hậu quả, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ 8,2 kg pháo hoa nổ để sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS như như Cáo trạng số 11/CT-VKS-Ia H'Drai, ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có cha đẻ là ông Nguyễn Văn C được tặng Huy hiệu chiến sĩ T. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này ra, luôn chấp hành đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Theo hướng dẫn tại văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 Nghị quyết Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ điều kiện được áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát trong thời gian chấp hành án vẫn bảo đảm khả năng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cũng như phòng ngừa chung, mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Tống Thanh T không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 (Một) bao tải xác rắn màu đỏ được niêm phong, bên ngoài có các dấu hình tròn, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T1, Nguyễn Thành L1 và Nguyễn Đình C1, bên trong gồm: 04 (bốn) hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0834” có tổng khối lượng 5,4 kg (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 19/01/2024) và 03 (ba) bì nilong đã qua sử dụng. Các vật chứng nêu trên là vật cấm lưu hành (hàng cấm), vật đựng chất cấm lưu hành không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô BKS: 81R4 - 5859 nhãn hiệu HONDA, loại xe LEAD màu vàng – đen. Quá trình điều tra, xác minh chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của ông Tống Thanh T. Ông T cho bị cáo mượn xe để phục vụ sinh hoạt và đi làm rẫy, không biết việc bị cáo sử dụng xe để tàng trữ hàng cấm. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông Tống Thanh T là có cơ sở nên không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 07 (Bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/6/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Văn N cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bao tải xác rằn màu đỏ được niêm phong, bên ngoài có các dấu hình tròn, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T1, Nguyễn Thành L1 và Nguyễn Đình C1, bên trong gồm: 04 (bốn) hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL – C0834” có tổng khối lượng 5,4 kg (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 19/01/2024) và 03 (ba) bì nilong đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024 của Công an huyện I với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia H'Drai).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/6/2024) bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án để xin xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phú Lợi |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N
