Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/DS-PT

Ngày 12 – 01 - 2024

“Tranh chấp trả lại

mương nước và lối đi chung "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Văn Hà
Các Thẩm phánÔng Trần Văn Thưởng
Ông Lưu Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Văn Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 137/2023/TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp trả lại mương nước và lối đi chung"

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS -ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 57/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự :

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, bà Đỗ Thị B, bà Trần Thị N, ông Nguyễn Danh M, ông Nguyễn Địch N1, ông Đào Anh B1; cùng địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Bà D, bà B có mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị B, bà Nguyễn Thị D: Ông Lê Đình Q; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H; địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sự Phạm Ngọc Q1; địa chỉ: F T, P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L; địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  6. Người kháng cáo: Bị đơn là ông Nguyễn Văn H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L.

1

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị D, bà Đỗ Thị B, bà Trần Thị N, ông Nguyễn Danh M, ông Nguyễn Địch N1, ông Đào Anh B1 và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

    Tại xóm làm rau của các nguyên đơn thuộc thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai từ năm 1980 đã có 01 con mương nước lớn dẫn từ đường 17/3 chảy qua Thôn H, tại đây tẻ ra một nhánh khác rẽ về bên tay phải có 01 con mương khác đưa xuống khu vực ruộng để mọi người làm lúa nước. Từ lâu mọi người vẫn sử dụng con mương này và con đường nhỏ chạy song song để làm lối đi xuống ruộng. Năm 1996 ông Nguyễn Văn H đến khu vực này mua khoảng 03 sào đất để làm nhà ở, sau đó ông H tự ý lấp con mương ngay cổng ra vào nhà ông H nhưng vẫn còn con đường đi.

    Do mương nước mọi người không có nhu cầu sử dụng nữa nên việc ông H lấp mương thì không ai có ý kiến gì vì vẫn còn con đường đi. Đến khoảng năm 2016 thì vợ chồng ông H, bà L có mua thêm diện tích khoảng 2.000m², thửa đất này giáp với vườn cũ của ông H nhưng bị chia cắt bởi còn đường và mương nước nói trên. Để nối liền thửa đất với nhau, năm 2019 vợ chồng ông H, bà L tiếp tục rào chắn ngăn chiếm cả lối đi, không cho mọi người đi lại vào các thửa đất phía trong để canh tác rau màu.

    Do đó, các nguyên đơn là người có đất trồng rau ở khu vực phía trong thửa đất phản ứng yêu cầu vợ chồng ông H, bà L phải trả lại hiện trạng ban đầu là lối đi trên bờ mương và mương nước để nhập lại làm lối đi chung nhưng vợ chồng ông H, bà L không đồng ý. Do đó các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng ông H, bà L phải phải tháo dỡ hàng rào, trả lại cho các nguyên đơn lối đi chung có diện tích 44m² và mương nước có diện tích 86,2m² tại thửa đất số 261, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai để làm lối đi chung.

  2. Bị đơn là ông Nguyễn Văn H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày:

    Năm 1996, gia đình ông Nguyễn Văn H nhận chuyển nhượng của ông Rơ Mah D1 một thửa đất trồng lúa khoảng 3000m², năm 2005 tiếp tục nhận chuyển nhượng của ông Siu K một thửa đất diện tích 1.720m² liền kề với thửa đất trên tại thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Do làm lúa nên gia đình ông H đã để một bờ chắn nước dài khoảng 40m để đi lại bỏ phân, thu hoạch lúa của gia đình chứ không phải là đường đi chung của mọi người. Năm 2019 gia đình ông H chuyển qua trồng rau nên hợp thành 02 thửa đất lại với nhau và rào lại. Như vậy, đất nhà ông H không có bất cứ con đường chung và mương nước nào đi qua như các nguyên đơn đã khởi kiện. Do đó, ông H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của các nguyên đơn.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L trình bày:

    Bà Nguyễn Thị L đồng ý với ý kiến của ông Nguyễn Văn H là chồng của bà L. Bà L không bổ sung gì thêm và đề nghị Toà án bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

  4. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS -ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
    • Áp dụng các Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
    • Áp dụng Điều 248, Điều 253, Điều 254, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
    • Áp dụng Điều 26 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Xử:

    Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị D, bà Đỗ Thị B, bà Trần Thị N, ông Nguyễn Danh M, ông Nguyễn Địch N1, ông Đào Anh Bích .

    • - Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L phải trả lại lối đi chung mà không có đền bù thuộc thửa đất số 261, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Lối đi này có diện tích 44m² và có kích thước, ranh giới tứ cận như sau:
      • + Phía Đông giáp thửa đất số 209 do ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L đang sử dụng dài 20,88m, giáp thửa đất số 249 dài 23,6m.
      • + Phía Tây giáp thửa đất phần đất ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L đang sử dụng dài 44,81m.
      • + Phía Nam giáp thửa đất số 258 ông Nguyễn Danh M đang sử dụng dài 01m.
      • + Phía bắc giáp đường bê tông dài 01m.
    • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D, bà Đỗ Thị B, bà Trần Thị N, ông Nguyễn Danh M, ông Nguyễn Địch N1, ông Đào Anh B1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L trả lại mương nước có diện tích 86,2m² tại thửa đất số 261, tờ bản đồ số 14, thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai để làm lối đi chung.

    Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ chịu tiền chi phí tố tụng; thông báo quyền thoả thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

    Ngày 29 tháng 9 năm 2023, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm về việc buộc gia đình bị đơn phải mở lôi đi chung có diện tích 44m² nằm trên phần diện tích của bị đơn.

  5. Tại phiên toà phúc thẩm:
    • -Bị đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn cho rằng đất nguyên thủy không có đường đi nếu các nguyên đơn muốn mở đường trên đất của bị đơn thì phải bồi thường cho bị đơn một khoản tiền.
    • -Các nguyên đơn trình bày mương nước, bờ mương là lối đi chung các hộ sư dụng trước khi ông H mua đất canh tác ở đây, đường bờ mương là lối đi chung của tập thể chứ không đồng ý bồi thường tiền cho bị đơn.

    Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giữa nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định về việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu kháng cáo như sau:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ hàng rào, trả lại cho các nguyên đơn lối đi chung có diện tích 44m² tại thửa đất số 261, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai để làm lối đi chung.

Theo nguyên đơn trình bày thì lối đi này có từ trước dọc theo mương nước để làm lối đi xuống ruộng của mọi người. Năm 2019, bị đơn đã tự ý rào chắn ngăn chiếm lối đi, không cho mọi người đi vào các thửa đất phía trong để canh tác hoa màu.

Bị đơn lại cho rằng năm 1996, bị đơn nhận chuyển nhượng của ông Rơ Mah D1 một thửa đất trồng lúa khoảng 3.000m², năm 2005 tiếp tục nhận chuyển nhượng của ông Siu K một thửa đất 1.720m² liền kề với thửa đất trên, ông H đã để một bờ chắn nước dài khoảng 40m để đi lại bỏ phân, thu hoạch lúa của gia đình chứ không phải là đường đi chung của mọi người. Năm 2019, gia đình ông H chuyển qua trồng rau nên hợp hai thửa làm một và rào lại nên ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho các hộ của nguyên đơn, hộ của ông H đều không thể hiện tại vị trí đất tranh chấp có con đường đi. Ranh giới giữa hai thửa đất của ông H mua của ông K và ông Rơ Mah D1 cũng chỉ là đường thẳng không thể hiện con đường nào cả. Nhưng theo thực tế cho thấy, các thửa đất xung quanh phần đất tranh chấp là đất nông nghiệp trồng lúa, hoa màu nếu như không có bờ ruộng, không có mương dẫn nước phục vụ canh tác là không phù hợp với thực tế canh tác.

Ngoài ra, tại biên bản làm việc ngày 20-11-2019 (bút lục số 166) người bán đất cho ông H là ông Siu K đã trình bày “Năm 2005 ông K tiếp tục chuyển nhượng phần đất phía đông đường có diện tích 1.720m² cho ông H nên hiện nay 2 bên đường này là đất ông H và ông H có làm nền bê tông táp lô trền phần đường còn lại, còn mương nước giáp đường thì hiện nay đã không còn mà ông H đang sử dụng trồng rau.

Việc chuyển nhượng đất của gia đình ông Siu K và ông Nguyễn Văn H chỉ chuyển nhượng ruộng chứ không chuyển nhượng đường đi”

Cũng tại biên bản làm việc nêu trên, ông Đào Đình T là người mua đất của ông K trình bày: “Năm 1995 ông T đại diện các ông T, ông H, ông Đ nhận chuyển nhượng 1,4ha đất từ gia đình ông K (ông K đứng ra bán). Khi đó đất giáp mương nước và đường đi hiện trạng cạnh mương nước (đường và mương rộng khoảng 2m) xe bò đi vào được đường này.

Sau khi nhận chuyển nhượng, các hộ chia nhau sản xuất, trong đó ông H sử dụng 3.000m² phần giáp mương nước và đường đi hiện trạng cạnh mương nước khi đỏ”

Ông Lê Xuân P – thôn T trình bày “Năm 1999 khi ông P ở đây thì đã không có con đường và mương nước như các hộ ý kiến, đất ông H giáp bờ ruộng, các hộ đi lại trên bờ ruộng chứ không phải đường rộng 2m”

Từ những lời khai của ông K1, ông T, ông P là những người bán đất, mua đất, sử dụng đất và không bị ảnh hưởng đến quyền lợi nghĩa vụ trong tranh chấp trình bày. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tại vị trí đất tranh chấp trước đây có bờ ruộng (bờ mương) và các hộ đi trên bờ ruộng (bờ mương) này là có căn cứ.

Tuy nhiên, các nhân chứng lại không có sự thống nhất về chiều rộng của con đường, ông K thì cho là 6m, ông T cho là 2m còn ông P cho là các hộ chỉ đi trên bờ ruộng chứ không phải 2m như ông T trình bày. Thấy rằng, lời khai của người làm chứng không thống nhất với nhau nhưng không có nghĩa là mâu thuẫn vì tùy từng thời kỳ do nhu cầu đi lại canh tác của mọi người mà có sự biến động về chiều rộng của con đường. Để đáp ứng nhu cầu đi lại của của mọi người phục vụ cho công việc sản xuất vận chuyển nông sản Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định tại Điều 254 của Bộ luật D2 sư chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS -ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
    • -Áp dụng Điều 248, Điều 253, Điều 254, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
    • 1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị D, bà Đỗ Thị B, bà Trần Thị N, ông Nguyễn Danh M, ông Nguyễn Địch N1, ông Đào Anh Bích .
  • Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L phải trả lại lối đi chung mà không có đền bù thuộc thửa đất số 261, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Lối đi này có diện tích 44m² và có kích thước, ranh giới tứ cận như sau:
    • + Phía Đông giáp thửa đất số 209 do ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L đang sử dụng dài 20,88m, giáp thửa đất số 249 dài 23,6m.
    • + Phía Tây giáp thửa đất phần đất ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L đang sử dụng dài 44,81m.
    • + Phía Nam giáp thửa đất số 258 ông Nguyễn Danh M đang sử dụng dài 01m.
    • + Phía Bắc giáp đường bê tông dài 01m.

    (có sơ đồ hiện trạng kèm theo)

  • 1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D, bà Đỗ Thị B, bà Trần Thị N, ông Nguyễn Danh M, ông Nguyễn Địch N1, ông Đào Anh B1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L trả lại mương nước có diện tích 86,2m² tại thửa đất số 261, tờ bản đồ số 14, thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai để làm lối đi chung.
  • 1.3. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • -Buộc bà Nguyễn Thị D, bà Đỗ Thị B, bà Trần Thị N, ông Nguyễn Danh M, ông Nguyễn Địch N1, ông Đào Anh B1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, trả lại cho bà Nguyễn Thị D số tiền 600.000 đồng trong số tiền 900.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006145 ngày 02/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai;
    • -Buộc ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch để nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • 1.4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
    • -Buộc ông Nguyễn Văn H phải hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị D toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.700.000 đồng.
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
    • -Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị D tự nguyện chịu toàn bộ chi phí về định giá tài sản là 3.000.000 đồng, nguyên đơn đã nộp đủ.
  1. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0009083 ngày 16-11-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L đã nộp đủ.

  2. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND huyện Ia Grai;
  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Ia Grai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Lê Văn Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/DS-PT ngày 12/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp trả lại mương nước và lối đi chung

  • Số bản án: 13/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp trả lại mương nước và lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp lối đi, mương nước
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger