Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------------

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11 - 01 - 2024

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Mai Xuân Thường

Ông Trần Xuân Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 331/2023/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 367/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 542/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25/12/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 10/06/1993; địa chỉ: khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 16/6/1993; địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm N (xóm B cũ), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hiện sống tại cộng hoà Séc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Trong vài năm gần đây, vợ chồng phát sinh rất nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, hơn nữa anh T1 đang đi xuất khẩu lao động tại cộng hòa Séc nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thanh T1.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thanh T1 có một con chung là Nguyễn Phương Khả V, sinh ngày 25/02/2020. Hiện nay, cháu V đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh T1:

Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Nguyễn Thanh T1 vắng mặt. Chị Nguyễn Thị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh T1 cư trú, chị chỉ biết anh T1 đang ở cộng hòa S. Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án tại nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, đồng thời gửi Thông báo thụ lý vụ án cho anh T1 thông qua bà Trần Thị M (là mẹ đẻ của anh T1), tiến hành xác minh, lấy lời khai, gửi văn bản yêu cầu bà Trần Thị M cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn. Tuy nhiên, bà Trần Thị M cho biết anh T1 đi xuất khẩu lao động và hiện đang sinh sống tại cộng hoà Séc; anh T1 thỉnh thoảng liên lạc với bà M nhưng không cho bà biết địa chỉ cụ thể của anh ở cộng hòa S. Anh T2 đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị T với anh. Đến nay, Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của anh T2 liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng tại phiên tòa.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Thanh T1 đã được mẹ đẻ của mình cung cấp các thông tin về việc chị Nguyễn Thị T xin ly hôn, nhưng vẫn cố tình giấu địa chỉ, không chấp hành các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Vì vậy việc xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét thấy chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thanh T1 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào năm 2018, không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân là hợp pháp. Trong vài năm gần đây, tình cảm giữa chị T và anh T1 càng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thanh T1. Về con chung: Đề nghị giao con chung là Nguyễn Phương Khả V, sinh ngày 25/02/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Nguyễn Thanh T1 không phải đóng góp phí tổn nuôi con do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không xem xét; chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thanh T1 có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và bị đơn anh Nguyễn Thanh T1; trong đó chị T và anh T1 đều có hộ khẩu thường trú tại xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; bị đơn anh Nguyễn Thanh T1 đã xuất cảnh qua cửa khẩu quốc tế sân bay N lần cuối là ngày 30/06/2019 đến nay chưa nhập cảnh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Thanh T1 vắng mặt, Tòa án đã tiến hành xác minh lấy lời khai của bà Trần Thị M (là mẹ đẻ của anh T1, địa chỉ: xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) yêu cầu bà M cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh T1 biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết việc ly hôn giữa chị T và anh T1. Tuy nhiên, bà Trần Thị M không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh T1 do anh T1 không cho bà biết; đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh T1 liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng của anh T1 trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thanh T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 22/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, là hôn nhân hợp pháp. Từ 30/06/2019, anh T1 đi nước ngoài và đến nay chưa về nước. Đến nay, chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh T1, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thanh T1 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thanh T1 có một con chung là Nguyễn Phương Khả V, sinh ngày 25/02/2020. Hiện cháu V đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V, không yêu cầu anh T1 đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Xét nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là nguyện vọng chính đáng của người mẹ. Cháu Nguyễn Phương Khả V sống với chị T từ nhỏ đến nay. Anh T2 đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con cần giao con chung Nguyễn Phương Khả V cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị T, anh T2 có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thanh T1.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Phương Khả V, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Nguyễn Thanh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thanh T1 có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp (anh Chu Quang M1 nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0004497 ngày 23/10/2023.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diễn Xuân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Quốc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện ly hông anh Nguyễn Thanh T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger