|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST Ngày 11 tháng 01 năm 2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Trí.
- Ông Nguyễn Văn Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 632/2023/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 556/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 650/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Hữu B, sinh năm 1991; địa chỉ: số nhà E, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Bùi Thị Linh H, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn anh Lê Hữu B trình bày:
Anh Lê Hữu B và chị Bùi Thị L Huệ do quen biết tìm hiểu nhau trước, cả hai đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/3/2022 tại Ủy ban nhân xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 5/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường hay cự cãi nên mâu thuẫn kéo dài và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên anh B yêu cầu được ly hôn với Chị H.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Thiên Â, sinh ngày 14/8/2022, hiện đang sống với anh B. Khi ly hôn, anh B yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Bùi Thị Linh H đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập chị H đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn anh Lê Hữu B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Bùi Thị L H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.
Ý kiến giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Hữu B đối với chị Bùi Thị Linh H.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Thiên Â, sinh ngày 14/8/2022. Anh B được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do anh B không có yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Anh Lê Hữu B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn, nuôi con với chị Bùi Thị L Huệ nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Bùi Thị Linh H với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại xã M, huyện C, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện C, tỉnh An Giang.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Hữu B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; đối với bị đơn chị Bùi Thị L Huệ Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng chị H không đến tham gia phiên Tòa. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Lê Hữu B và chị Bùi Thị Linh H là tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận. Anh B cho rằng, trong cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường hay cự cãi nên mâu thuẫn kéo dài và vợ chồng đã sống ly thân nên anh B xin ly hôn với chị H. Qua yêu cầu xin ly hôn của anh B thì thấy: hôn nhân giữa anh B và chị H có những mâu thuẫn không thể hàn gắn, thể hiện qua việc vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay, trong thời gian này cả hai chỉ lo cho cuộc sống cá nhân mà không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tạo điều kiện hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm với nhau nhưng chị H không tham gia hòa giải, không tham dự phiên tòa cũng như gửi bản tự khai trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của anh B, điều này chứng tỏ cả hai không muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này. Do đó, việc anh B yêu cầu xin ly hôn với chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Lê Thiên Â, sinh ngày 14/8/2022. Khi ly hôn, anh B yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Qua yêu cầu xin được nuôi dưỡng con chung của anh B, Hội đồng xét xử nhận thấy trong thời gian vợ chồng ly thân thì cháu  do anh B nuôi dưỡng vẫn phát triển khỏe mạnh nên việc anh B xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp với Điều 81 luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Bên cạnh việc được nuôi dưỡng con chung thì anh B và các thành viên gia đình anh B phải tạo điều kiện để chị H được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị L Huệ không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do anh Lê Hữu B không có yêu cầu.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Do anh B không yêu cầu nên không xét đến.
[3] Về án phí: Anh Lê Hữu B phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Hữu B và chị Bùi Thị Linh H.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Thiên Â, sinh ngày 14/8/2022. Anh Lê Hữu B được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Thiên Â, sinh ngày 14/8/2022. Anh Lê Hữu B và các thành viên gia đình anh B phải tạo điều kiện để chị H được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Lê Hữu B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà anh B đã nộp theo biên lai thu số 0014079, ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Anh B đã thực hiện xong.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Phương Quyền |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông Lê Hữu B yêu cầu ly hôn với bà bà Bùi Thị Linh H
