|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HNGĐ - ST Ngày: 10 – 5 – 2024 V/v: Ly hôn và nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Chiểu
- Bà Hoàng Thị Thu
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thắng - Thư ký TAND huyện Yên Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đăng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 10/5/2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, vụ án thụ lý số 48/2024/TLST - HNGĐ ngày 11/3/2024 về việc Ly hôn và nuôi con chung. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 23/4/2024 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Vũ Ngọc M, sinh năm: 1998. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm: 1993. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 07/3/2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Vũ Ngọc M trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu 1 năm. Đăng ký kết hôn ngày 16/10/2018 tại UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Mặt khác, anh T còn ham chơi, rượu chè, cờ bạc dẫn tới nợ nần. Sau khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình phân tích khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng không thể hoà hợp được. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho tới nay không ai quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị làm đơn xin được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Lê Vũ Anh Đ, sinh ngày 02/5/2015 và cháu Lê Vũ Đức L, sinh ngày 23/10/2018. Hiện nay, cháu Đ đang ở cùng với chị, còn cháu L đang ở cùng với anh T. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Đ, còn cháu L giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Không yêu cầu các bên phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tại bản tự khai ngày 13/3/2024 anh Lê Văn T trình bầy như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị M kết hôn với nhau tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 16/10/2018 tại UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do trong quá trình chung sống vợ chồng anh nhận thấy không có tiếng nói chung, bất đồng nhau trong quan điểm sống nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Sau khi mâu thuẫn xảy ra đã được gia đình hai bên khuyên can hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng anh sống ly thân từ đầu năm 2020 cho tới nay không ai quan tâm gì tới nhau. Nay chị M làm đơn xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đồng ý ly hôn với chị M.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Vũ Anh Đ, sinh ngày 02/5/2015 và cháu Lê Vũ Đức L, sinh ngày 23/10/2018. Hiện nay, cháu Đ đang ở cùng với chị M, còn cháu L đang ở cùng với anh. Khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu L. Giao cháu Đ cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Không yêu cầu các bên phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị M, anh T xin vắng mặt và đã gửi đơn xin xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí. Đề nghị HĐXX: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Ngọc M, xử cho chị được ly hôn anh Lê Văn T. Về con chung: Giao cháu Lê Vũ Anh Đ, sinh ngày 02/5/2015 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Lê Vũ Đức L, sinh ngày 23/10/2018 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Các bên có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cấm và có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con. Về án phí: Xử lý theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
{1} Về tố tụng:
1.1. Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu hồ sơ khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn giữa chị M và anh T là đúng quy định về thẩm quyền xét xử và quan hệ tranh chấp, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
1.2.Về sự vắng mặt của các đương sự:
Chị M, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị M, anh T là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
{2} Về nội dung:
- Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh T là tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Mặt khác, anh T chơi bời không quan tâm đến vợ con. Đó là nguyên nhân chính dẫn đến phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Đánh giá thực trạng mâu thuẫn cuộc sống vợ chồng: Chị M và anh T sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh T đã mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài. Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc không đạt được. Hiện tại đời sống chung đã chấm dứt. Chị M xin ly hôn, về phía anh T cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn là phù hợp.
- Về con chung: Chị M và anh T có 02 con chung là cháu Lê Vũ Anh Đ, sinh ngày 02/5/2015 và cháu Lê Vũ Đức L, sinh ngày 23/10/2018. Nguyện vọng của chị M xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ. Nguyện vọng của anh T xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L. HĐXX xét thấy: Nguyện vọng nuôi con của chị M và anh T, phù hợp quy định của pháp luật và thực trạng cuộc sống hai bên. Vì vậy HĐXX chấp nhận theo nguyện vọng của hai bên là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chị M và anh T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
- Về tài sản chung: Chị M và anh T tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét.
- Về công nợ chung: Chị M và anh T không có công nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Chị M khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 228, Khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Ngọc M.
Về Hôn nhân: Chấp nhận chị Vũ Ngọc M được ly hôn anh Lê Văn T.
Về con chung: Chị M và anh T có 02 con chung. Giao cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Vũ Anh Đ, sinh ngày 02/5/2015. Giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Vũ Đức L, sinh ngày 23/10/2018. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị M và anh T không yêu cầu.
Chị M và anh T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản và công nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Chị Vũ Ngọc M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn) mà chị M đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, theo Biên lai thu số 0003486 ngày 07/3/2024. Chấp nhận chị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo bản án cho chị M và anh T trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND huyện Yên Định;
- - TAND tỉnh Thanh Hóa;
- - Chi cục THADS Yên Định;
- - UBND tt Yên Lâm, huyện Yên Định;
- - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Thắng |
Bản án số 13/2024/HNGĐ - ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA về ly hôn và nuôi con chung.
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
