Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/DS-PT

Ngày: 10 - 01 -2024

V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.

Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Vũ

Ông Hà Chí Quốc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 385/TBTL-TA ngày 23 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp về thừa kế tài sản”; do Bản án Dân sự sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 397/2023/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1949; địa chỉ: tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Trần Hoàng N, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 30/12/2022) (Có mặt).

  3. Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1970; địa chỉ: tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Có mặt).
  4. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lưu Hải T, sinh năm 1962; địa chỉ: Số G, đường N, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 27/4/2023) (có mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Trần Thanh S, sinh năm 1967; địa chỉ: số nhà A, tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
    2. Bà Lý Thị D, sinh năm 1972; địa chỉ: số nhà A, tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
    3. Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Thanh S, bà Lý Thị D: Anh Diệp Văn C, sinh năm 1987; địa chỉ: số nhà E, đường số B, đường B, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (theo các văn bản ủy quyền ngày 24/10/2022, ngày 23/3/2023) (Có mặt).

    4. Ông Trần Văn P, sinh năm 1963; địa chỉ: số nhà C, hẻm S, đường số B, đường N, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
    5. Bà Trần Thị G (tên gọi khác: G1), sinh năm 1969; địa chỉ: tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Có mặt).
    6. Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn P, bà Trần Thị G: Ông Lưu Hải T, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 27/4/2023) (có mặt).

Người kháng cáo: Bà Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P là bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/8/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn L và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Cha mẹ của ông L là cụ ông Trần Văn T1 (chết năm 1983) và cụ bà Ngô Thị T2 (chết năm 2008). Cụ T1 và cụ T2 có tất cả 05 người con, gồm: ông Trần Văn L, ông Trần Văn P, ông Trần Thanh S, bà Trần Thị G và bà Trần Thị H.

Khi còn sống, cụ T1 và cụ T2 có tạo lập được 01 phần đất có chiều ngang 25,86m x dài hết đất, diện tích 760m² (qua đo đạc hiện trạng có diện tích là 738,6m²), thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh và căn nhà tạm trên đất. Ngày 25/7/1994, cụ T2 được Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01076 QSDĐ/D11. Cụ T1 và cụ T2 chết không có để lại di chúc, hai cụ không có con riêng hay con nuôi nào khác.

Trước đây (không nhớ năm), cụ T2 có bán 4m ngang cho ông P. Đồng thời, cụ T2 còn tặng cho ông P 3m ngang để ông P được 7m ngang cất nhà sinh sống, nhưng sau đó ông P không cất nhà mà bán 7m ngang này cho người khác. Sau này, vợ chồng ông S và bà D là người mua lại 7m ngang với số tiền là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Do đó, di sản mà cha mẹ để lại chỉ còn 18,86m ngang, qua đo đạc hiện trạng có diện tích là 538,6m².

Nay ông L yêu cầu chia thừa kế tài sản do cha mẹ để lại theo quy định pháp luật đối với diện tích đất 538,6m², thuộc thửa đất số 166 (tách thửa 139), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh thành 05 phần bằng nhau cho 05 anh em gồm: ông L, ông P, ông S, bà G, bà H. Nếu nhận hiện vật mà phải thanh toán giá trị cho thừa kế khác thì ông L yêu cầu được chia bằng giá trị, không đồng ý nhận đất. Nếu không phải thanh toán thì ông L yêu cầu được nhận đất. Đối với căn nhà tạm và cây trồng trên đất, ông L không tranh chấp, không yêu cầu chia.

Đối với 7m ngang (qua đo đạc hiện trạng có diện tích 200m²) thì ông L đồng ý công nhận cho vợ chồng ông S, bà D được quyền sử dụng.

* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị H và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

H thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống. Cụ T1 và cụ T2 chết không có để lại di chúc.

Cụ T1 và cụ T2 để lại di sản là phần đất có chiều ngang 25,86m x dài hết đất, diện tích 760m² (qua đo đạc hiện trạng có diện tích là 738,6m²), thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh và căn nhà tạm trên đất (hiện ông P đang quản lý sử dụng), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01076 QSDĐ/D11 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp ngày 25/7/1994 do cụ T2 đứng tên.

Năm 1993, ông S gây tai nạn giao thông, gia đình nghèo khó, không có tiền bồi thường nên cụ T2 kêu ông P vay mượn tiền của người khác để bồi thường cho ông S. Sau này, ông S lập gia đình và vợ chồng ông S, bà D có trả lại tiền vay cho họ. Do đó, ông L trình bày cụ T2 bán 4m ngang và tặng cho ông P 03m ngang, tổng cộng 7m ngang là không đúng. Bà H không đồng ý công nhận 7m ngang cho vợ chồng ông S, bà D.

Do đó, bà H yêu cầu phản tố chia thừa kế phần đất diện tích 738,6m² nêu trên làm 05 phần bằng nhau cho ông L, ông P, ông S, bà G và bà H, mỗi người được hưởng 147,72m² và bà H yêu cầu được nhận hiện vật là đất.

Đối với căn nhà tạm trên đất: đây là nhà của cụ T2 để lại, bà H không yêu cầu chia nhà và đồng ý giao nhà cho ông P được quản lý sử dụng.

Đối với cây trồng trên đất, bà H không tranh chấp, không yêu cầu chia.

* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Trần Thanh S và người đại diện theo ủy quyền của ông S trình bày:

Ông S thống nhất với lời trình bày của ông L, bà H về quan hệ huyết thống. Cụ T1 và cụ T2 chết không có để lại di chúc.

Khi còn sống, cha mẹ có tạo lập được 01 phần đất có chiều ngang 25,86m x dài hết đất, diện tích 760m² (qua đo đạc hiện trạng có diện tích là 738,6m²), thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01076 QSDĐ/D11 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp ngày 25/7/1994 do cụ T2 đứng tên và trên đất có một căn nhà mái tol, vách bồ và cây. Năm 2004, căn nhà bị sập, ông S là người xây cất lại nhà như hiện trạng hiện nay cho cụ T2 sinh sống.

Sau khi cụ T1 chết, 04 anh chị em đều lập gia đình và ở riêng, chỉ có ông S sống chung với cụ T2. Khoảng năm 2000, cụ T2 có bán cho ông P 4m ngang. Đồng thời, cụ T2 tặng cho ông P thêm 3m ngang, để được 7m ngang xây nhà sinh sống, việc bán và tặng cho chỉ nói miệng, không có làm giấy tờ, không có sang tên. Sau đó, ông P bán 7m này cho người khác.

Năm 2009, người mua đất sau cùng là ông Nguyễn Thanh L1 yêu cầu ông S đưa giấy đất của cụ T2 để tách thửa sang tên 7m ngang cho ông L1. Lúc này, ông S mới biết sự việc và làm đơn gửi đến Ban Q để yêu cầu giải quyết. Tại Ban Q, ông L1 đồng ý bán lại phần đất 07m ngang này cho ông S và vợ (bà Lý Thị D) với giá tiền là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), hai bên giao nhận 60.000.000 đồng tại Văn phòng ấp T. Khi giao tiền, vợ chồng bà H và ông L cũng có mặt chứng kiến.

Do đó, di sản mà cha mẹ để lại chỉ có 18,86m ngang, 07m ngang còn lại là tài sản của ông S, bà D mua lại từ ông L1.

Nay ông S thống nhất chia thừa kế tài sản của cha mẹ để lại theo quy định pháp luật theo yêu cầu của ông L là chia 18,86m ngang cho 05 anh chị em. Đối với 07m ngang còn lại là tài sản của vợ chồng ông S, bà D nên ông S không đồng ý chia thừa kế, ông S yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng 7m ngang, diện tích 200m² nêu trên cho vợ chồng ông.

Đối với căn nhà tạm trên đất: căn nhà của cha mẹ trước đây đã bị sập, ông S là người xây cất lại nhà tạm này, do đó căn nhà là tài sản của ông S, ông S yêu cầu được quyền sử dụng, sở hữu căn nhà, không đồng ý chia nhà và không đồng ý giao nhà cho ông P sử dụng. Đồng thời, ông S yêu cầu được nhận thừa kế bằng hiện vật là đất ngay tại vị trí căn nhà. Nếu giá trị được chia nhiều hơn suất thừa kế thì ông S sẽ thanh toán giá trị bằng tiền cho các thừa kế khác.

Đối với cây trồng trên đất, ông S không tranh chấp, không yêu cầu chia, phần của ai được chia có cây gì thì hưởng cây đó.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn P, bà Trần Thị G và người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà G thống nhất trình bày:

Ông P và bà G thống nhất với lời trình bày của ông L, bà H, ông S về quan hệ huyết thống và việc cha mẹ chết không để lại di chúc.

Ông P và bà G thống nhất với lời trình bày của bà H về di sản mà cha mẹ để lại và thống nhất với yêu cầu của H là yêu cầu chia thừa kế phần đất diện tích 738,6m² nêu trên làm 05 phần bằng nhau cho ông L, ông P, ông S, bà G, bà H và ông P, bà G yêu cầu được nhận hiện vật là đất.

Đối với căn nhà tạm trên đất: Đây là nhà của cụ T2 để lại, không phải nhà của ông S, hiện tại ông P đang quản lý sử dụng. Do đó, ông P yêu cầu được tiếp tục quản lý sử dụng nhà và yêu cầu chia đất tại vị trí căn nhà cùng với bà H và bà G. Bà G cũng đồng ý giao nhà cho ông P được tiếp tục sử dụng và yêu cầu được chia đất tại vị trí căn nhà cùng với bà H, ông P.

Đối với cây trồng trên đất: Ông P, bà G không tranh chấp, không yêu cầu chia.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị D và người đại diện theo ủy quyền của bà D trình bày:

D thống nhất với lời trình bày của ông S về việc ông bà mua lại 7m ngang từ ông L1 với giá 60.000.000 đồng vào năm 2009. Cho nên, 7m ngang này là tài sản của bà và ông S. Này bà D thống nhất với yêu cầu của ông S, bà yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng 7m ngang nêu trên cho bà và ông S, bà D không đồng ý chia thừa kế 7m ngang này theo yêu cầu của bà H. Ngoài ra, bà D không còn tranh chấp tài sản gì khác trong vụ án này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ các Điều 26, 39, 228, 147, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 166 của Luật Đất đai;

Căn cứ các Điều 12, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Trần Văn L đối với bà Trần Thị H.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố chia thừa kế của bà Trần Thị H đối với ông Trần Văn L.
  3. Chia thừa kế di sản của cụ Trần Văn T1 và cụ Ngô Thị T2 theo quy định pháp luật đối với phần đất 538,6m² thuộc thửa đất số 166 (tách thửa 139), tờ bản đồ 01, tọa lạc ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 01076 QSDĐ/D11 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là Ủy ban nhân dân thị xã H) cấp ngày 25/7/1994 do cụ Ngô Thị T2 đứng tên và căn nhà tạm diện tích 92,5m² trên đất. Chia cụ thể như sau:

    Trần Thị H, ông Trần Văn P, bà Trần Thị G được quyền sử dụng chung phần đất diện tích 403,9m² (trong đó có 165m² đất ở nông thôn), thuộc một phần thửa đất số 166 (tách thửa 139), tờ bản đồ 01, tọa lạc ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận: Đông giáp phần còn lại của thửa 166 (chia cho ông S) dài 28,56m; Tây giáp thửa 251 (tách 139) dài 28,60m; Nam giáp lộ 4m dài 14,13m; Bắc giáp đường đất 10m dài 14,13m.

    Giao căn nhà diện tích 92,5m², có kết cấu nhà tạm chữ L, nền bê tông xi măng, cửa sắt có gắn kiếng, cột gạch + cột bê tông xi măng đúc sẵn, vách tol + cây tạp, kèo đòn tay gỗ xây dựng, mái tol được xây cất trên phần đất 403,9m² nêu trên cho ông Trần Văn P được quyền sở hữu.

    Ông Trần Thanh S được quyền sử dụng phần đất diện tích 134,7m² (trong đó có 55m² đất ở nông thôn), thuộc một phần thửa đất số 166 (tách thửa 139), tờ bản đồ 01, tọa lạc ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận: Đông giáp thửa 180 dài 28,55m; Tây giáp phần còn lại của thửa 166 (chia cho bà H, ông P, bà G) dài 28,56m; Nam giáp lộ 4m dài 4,71m; Bắc giáp đường đất 10m dài 4,73m.

    Trần Thị H, bà Trần Thị G, mỗi người có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn L số tiền 145.523.450 đồng (một trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi đồng) giá trị di sản ông Trần Văn L được chia.

    Ông Trần Văn P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn L số tiền 168.306.200 đồng (một trăm sáu mươi tám triệu ba trăm lẻ sáu nghìn hai trăm đồng) giá trị di sản ông Trần Văn L được chia.

    Ông Trần Thanh S có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn L số tiền 148.723.450 đồng (một trăm bốn mươi tám triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi đồng) giá trị di sản ông Trần Văn L được chia.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa giao đủ số tiền như trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ, theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Thanh S đối với bà Trần Thị H, ông Trần Văn P, bà Trần Thị G về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.
  5. Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Thanh S và bà Lý Thị D đối với phần đất diện tích 200m² (trong đó có 80m² đất ở nông thôn), thuộc thửa 251 (tách thửa 139), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận: Đông giáp thửa đất 166 (tách thửa 139) dài 28,60m; Tây giáp thửa đất 165 dài 28,62m; Nam giáp lộ 4m dài 7m; Bắc giáp đường đất 10m dài 7m.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Nội dung kháng cáo:

Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia di sản hết phần đất diện tích 760m² (qua đo đạc hiện trạng có diện tích là 738,6m²), thành 05 phần bằng nhau. Không chấp nhận yêu cầu độc lập đối với ông Trần Thanh S.

Tại phiên toà người đại diện cho người kháng cáo trình bày: Phần đất tranh chấp vẫn do cụ T2 đứng tên, không có thay đổi về diện tích. Phần đất chiều ngang 07 mét cho rằng ông P đã bán nhưng không có giấy tờ, ông P không thừa nhận, cụ T2 cũng chưa sang tên, tách bộ cho người mua đất. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P; chấp nhận chia thừa kế toàn diện tích cụ T2 đứng giấy là 760m² (qua đo đạc hiện trạng có diện tích là 738,6m²), thành 05 phần bằng nhau.

Người đại diện của nguyên đơn trình bày: Với nội dung kháng cáo của bị đơn và người liên quan là không có căn cứ. Bởi vì ông L biết rõ việc cụ T2 cho đất và bán đất cho ông P, sau đó ông P bán lại cho nhiều người khác. Ông S mua lại được chính quyền địa phương làm chứng và có mặt ông L, bà H. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P.

Người đại diện của ông S, bà D trình bày: Việc ông S mua lại đất từ ông L1 đã có đầy đủ cơ sở chứng minh. Ông P, bà H, bà G không có khả năng thanh toán giá trị tài sản cho người khác thì giao cho ông S nhận hiện vật và thanh toán giá trị tài sản lại cho các đồng thừa kế, cụ thể là ông S xin nhận 02 phần đất và thanh toán giá trị lại cho bà H, ông P, bà G. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;

+ Về nội dung: Nguồn góc phần đất các đương sự đã thống nhất là do cụ T2 để lại; phần đất ông S yêu cầu được sử dụng, đã có đủ cơ sở xác định ông S mua lại từ ông L1, có chính quyền địa phương, ông L và bà H cùng có mặt chứng kiến và hiện tại ông S đang quản lý sử dụng, nên có cơ chấp nhận yêu cầu độc lập của ông S. Từ đó cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm quyết định là có căn cứ, đúng pháp luật. Người kháng cáo, nhưng không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Bà Trần Thị H, Trần Thị G, Trần Văn P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng:

    Ngày 14 tháng 9 năm 2023 Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử, đến ngày 26-9-2023 Bà Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P kháng cáo và có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, ông P thuộc diện miễn tạm ứng án phí. Xét thấy việc kháng cáo của các đương sự là đảm bảo theo quy định của pháp luật.

    - Về thời hiệu khởi kiện: Cụ ông Trần Văn T1 (chết năm 1983) và cụ bà Ngô Thị T2 (chết năm 2008). Do đó theo quy định tại khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện thừa kế vẫn còn.

    - Hàng thừa kế: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Cụ T1 và cụ T2 có tất cả 05 người con, gồm: ông Trần Văn L, ông Trần Văn P, ông Trần Thanh S, bà Trần Thị G và bà Trần Thị H.

    - Về yêu cầu phản tố: Nguyên đơn xác định di sản thừa kế là phần đất diện tích 538,6m², chiều dài mặt tiền là 18,86 mét (sau khi trừ phần đất ông S mua lại ông Thanh L1 chiều ngang 07 mét). Bị đơn bà Trần Thị H cho rằng phần đất chiều ngang 07 mét vẫn còn trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ T2, nên bà H yêu cầu khi chia thừa kế thì phải chia hết phần đất do cụ T2 để lại. Đây là việc ý kiến đối lập của các đương sự khi xác định di sản thừa kế, không phải là yêu cầu phản tố. Cấp sơ thẩm lại xác định là yêu cẩu phản tố và cho bà H nộp tạm ừng án phí là không đúng, cần rút kinh nghiệm.

  2. [2] Về nội dung tranh chấp: Khi còn sống, cha mẹ có tạo lập được 01 phần đất có chiều ngang 25,86m x dài hết đất, diện tích 760m² (qua đo đạc hiện trạng có diện tích là 738,6m²), thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01076 QSDĐ/D11 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp ngày 25/7/1994 do cụ T2 đứng tên và trên đất có một căn nhà mái tol, vách bồ và cây. Năm 2004, căn nhà bị sập, ông S là người xây cất lại nhà như hiện trạng hiện nay cho cụ T2 sinh sống.

    Sau khi cụ T1 chết, 04 anh chị em đều lập gia đình và ở riêng, chỉ có ông S sống chung với cụ T2. Khoảng năm 2000, cụ T2 có bán cho ông P phần đất 04mét ngang. Đồng thời, cụ T2 tặng cho ông P thêm 03mét ngang, để được 07mét ngang xây nhà sinh sống, việc bán và tặng cho chỉ nói miệng, không có làm giấy tờ, không có sang tên. Sau đó, ông P bán 07mét này cho người khác. Năm 2009, người mua đất sau cùng là ông Nguyễn Thanh L1 yêu cầu ông S đưa giấy đất của cụ T2 để tách thửa sang tên 7mét ngang cho ông L1. Lúc này, ông S mới biết sự việc và làm đơn gửi đến Ban Q để yêu cầu giải quyết. Tại Ban Q, ông L1 đồng ý bán lại phần đất 07mét ngang này cho ông S và vợ (bà Lý Thị D) với giá tiền là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), hai bên giao nhận 60.000.000 đồng tại Văn phòng ấp T. Khi giao tiền, vợ chồng bà H và ông L cũng có mặt chứng kiến.

    Do đó, di sản mà cha mẹ để lại chỉ có 18,86m ngang, 07mét ngang còn lại là tài sản của ông S, bà D mua lại từ ông L1.

    [2] Xét kháng cáo của các đương sự:

    [2.1] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P yêu không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Thanh S thấy rằng: Việc ông Trần Thanh S mua lại phần đất từ ông Nguyễn Thanh L1 là được chính quyền địa phương chứng kiến và có ông L và vợ chồng bà H chứng kiến việc ông S giao tiền cho ông L1 là sự thật. Vì vậy Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Thanh S và công nhận quyền sử dụng đất cho vợ công ông S phần đất diện tích 200m², có chiều ngang 07 mét là có căn cứ pháp luật. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các đương sự với yêu cầu này.

    [2.2] Xét kháng cáo của các đương sự về yêu cầu chia 05 phần bằng nhau đối với phần đất diện tích 738,6m², có chiều ngang dài 25,86 mét và yêu cầu nhận bằng hiện vật, thấy rằng: Trên cơ sở tài liệu có trong hồ sơ đã chứng minh việc ông Trần Thanh S đã nhận mua lại phần đất chiều ngang 07 (diện tích 200m²) từ ông Nguyễn Thanh L1 là có thật và yêu cầu độc lập của ông S là có cơ sở chấp nhận. Vì vậy di sản cần tiến hành phân chia theo pháp luật chỉ còn phần đất diện tích 538,6m², chiều dài mặt tiền là 18,86 mét; với chiều ngang là 18,86 mét nên không đủ điều kiện tách thửa theo quy định (nhỏ hơn 04 mét ngang). Vì vậy các đương sự đều có yêu cầu nhận bằng hiện vật là không thể. Toà án cấp sơ thẩm tiến hành phân chia thửa đất thành 04 phần, người không nhận được hiện vật thì được nhận giá trị tương ứng với kỷ phần được hưởng là phù hợp, đảm bảo cho việc tách thửa và thi hành án.

    Từ những phân tích nêu trên, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P; chấp nhận kháng nghị của VKSND thành phố Tây Ninh và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà.

    Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên có điều chỉnh cách tuyên án cho phù hợp quy định pháp luật.

  3. [3] Về Án phí dân sự phúc thẩm:

    Kháng cáo của bà Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P không được chấp nhận, nên bà H, bà G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; ông P được miễn án phí phúc thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P

    Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.

  2. Căn cứ các Điều 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 166 của Luật Đất đai; Căn cứ các Điều 12, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Trần Văn L đối với bà Trần Thị H.

      Chia thừa kế di sản của cụ Trần Văn T1 và cụ Ngô Thị T2 theo quy định pháp luật đối với phần đất 538,6m² thuộc thửa đất số 166 (tách thửa 139), tờ bản đồ 01, tọa lạc ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 01076 QSDĐ/D11 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là Ủy ban nhân dân thị xã H) cấp ngày 25/7/1994 do cụ Ngô Thị T2 đứng tên và căn nhà tạm diện tích 92,5m² trên đất. Chia cụ thể như sau:

      Trần Thị H, ông Trần Văn P, bà Trần Thị G được quyền sử dụng chung phần đất diện tích 403,9m² (trong đó có 165m² đất ở nông thôn), thuộc một phần thửa đất số 166 (tách thửa 139), tờ bản đồ 01, tọa lạc ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận: Đông giáp phần còn lại của thửa 166 (chia cho ông S) dài 28,56mét; Tây giáp thửa 251 (tách 139) dài 28,60mét; Nam giáp lộ 04mét dài 14,13mét; Bắc giáp đường đất 10mét dài 14,13mét.

      Giao căn nhà diện tích 92,5m², có kết cấu nhà tạm chữ L, nền bê tông xi măng, cửa sắt có gắn kiếng, cột gạch + cột bê tông xi măng đúc sẵn, vách tol + cây tạp, kèo đòn tay gỗ xây dựng, mái tol được xây cất trên phần đất 403,9m² nêu trên cho ông Trần Văn P được quyền sở hữu.

      Ông Trần Thanh S được quyền sử dụng phần đất diện tích 134,7m² (trong đó có 55m² đất ở nông thôn), thuộc một phần thửa đất số 166 (tách thửa 139), tờ bản đồ 01, tọa lạc ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận: Đông giáp thửa 180 dài 28,55mét; Tây giáp phần còn lại của thửa 166 (chia cho bà H, ông P, bà G) dài 28,56mét; Nam giáp lộ 04mét dài 4,71mét; Bắc giáp đường đất 10mét dài 4,73mét.

      Trần Thị H, bà Trần Thị G, mỗi người có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn L số tiền 145.523.450 đồng (một trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi đồng) giá trị di sản ông Trần Văn L được chia.

      Ông Trần Văn P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn L số tiền 168.306.200 đồng (một trăm sáu mươi tám triệu ba trăm lẻ sáu nghìn hai trăm đồng) giá trị di sản ông Trần Văn L được chia.

      Ông Trần Thanh S có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn L số tiền 148.723.450 đồng (một trăm bốn mươi tám triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi đồng) giá trị di sản ông Trần Văn L được chia.

    2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Thanh S đối với bà Trần Thị H, ông Trần Văn P, bà Trần Thị G về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.

      Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Thanh S và bà Lý Thị D đối với phần đất diện tích 200m² (trong đó có 80m² đất ở nông thôn), thuộc thửa 251 (tách thửa 139), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận: Đông giáp thửa đất 166 (tách thửa 139) dài 28,60mét; Tây giáp thửa đất 165 dài 28,62mét; Nam giáp lộ 04mét dài 07mét; Bắc giáp đường đất 10mét dài 07mét.

    3. Án phí:
      1. Án phí sơ thẩm:
        • Ông Trần Văn L và ông Trần Văn P được miễn án phí
        • Trần Thị H phải chịu 28.423.000 đồng (hai mươi tám triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0021689 ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, bà H còn phải nộp 25.923.000 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm hai mươi ba nghìn đồng).
        • Ông Trần Thanh S phải chịu 28.323.000 đồng (hai mươi tám triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông S đã nộp 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo biên lai thu số 0021361 ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, ông S còn phải nộp 23.323.000 đồng (hai mươi ba triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng).
        • Trần Thị G phải chịu 28.423.000 đồng (hai mươi tám triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn đồng).
      2. Án phí dân sự phúc thẩm:

        Trần Thị H, Trần Thị G mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0021890 và 0021891 ngày 05-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh (Đã nộp xong).

        Ông Trần Văn P được miễn án phí dân sự phúc thẩm

    4. Chi phí tố tụng khác: Các chi phí tố tụng trong vụ án gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 1.200.000 đồng, chi phí đo đạc 19.000.000 đồng, chi phí định giá tài sản 1.400.000 đồng, tổng cộng là 21.600.000 đồng. Trong đó:
      • Trần Thị H, bà Trần Thị G, ông Trần Văn P, mỗi người phải chịu chi phí tố tụng là: 5.100.000 đồng
      • Ông Trần Văn L, ông Trần Thanh S mỗi người phải chịu phần chi phí tố tụng là 3.150.600 đồng.

      Ông S đã nộp tạm ứng 21.600.000 đồng và chi phí xong.

      Ông L có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông S số tiền 3.151.000 (Ba triệu một trăm năm mươi mốt nghìn) đồng. Bà H, ông P, bà G, mỗi người có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông S số tiền là: 5.100.000 (Năm triệu một trăm nghìn) đồng.

    5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
    7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TTN;
  • - TAND. Tx HT;
  • - Chi cục THADS. TxHT;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án DSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Phạm Văn Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 13/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nay ông Lân yêu cầu chia thừa kế tài sản do cha mẹ để lại theo quy định pháp luật đối với diện tích đất 538,6m2, thuộc thửa đất số 166 (tách thửa 139), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp Trường Phước, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thành 05 phần bằng nhau cho 05 anh em gồm: ông Lân, ông Phụng, ông Sanh, bà Gái, bà Hường. Nếu nhận hiện vật mà phải thanh toán giá trị cho thừa kế khác thì ông Lân yêu cầu được chia bằng giá trị, không đồng ý nhận đất. Nếu không phải thanh toán thì ông Lân yêu cầu được nhận đất. Đối với căn nhà tạm và cây trồng trên đất, ông Lân không tranh chấp, không yêu cầu chia. Đối với 7m ngang (qua đo đạc hiện trạng có diện tích 200m2) thì ông Lân đồng ý công nhận cho vợ chồng ông Sanh, bà Dạo được quyền sử dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger