|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HNGĐ- ST Ngày: 10-01-2024
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Thiệp
- Bà Lý Thị Vinh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2023/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 22 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Ngọc T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ 6, phường Q, thành phố SL, tỉnh Sơn La. ( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Cầm Hiếu Bảo L, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản P, xã CL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Anh L hiện đang chấp hành án tại Đội 27, phân trại số 01, trại giam Yên Hạ, Cục C10, Bộ Công an. (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Vũ Ngọc T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Vũ Ngọc T và anh Cầm Hiếu Bảo L kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 14/3/2019, tại Ủy ban nhân dân xã CL, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L nghiện ma túy dẫn đến tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Vũ Ngọc T và anh Cầm Hiếu Bảo L đã sống ly thân. Hiện nay anh Cầm Hiếu Bảo L đang chấp hành án tại đội 27, phân trại số 01, trại giam Yên Hạ, Cục C10, Bộ Công an. Chị Vũ Ngọc T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Cầm Hiếu Bảo L.
Về con chung: Chị Vũ Ngọc T và anh Cầm Hiếu Bảo L có 01 (một) con chung là cháu Cầm Ngọc Bảo A, sinh ngày 02/8/2016. Hiện tại cháu Cầm Ngọc Bảo A đang sống chung với chị Vũ Ngọc T.
Chị Vũ Ngọc T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Cầm Ngọc Bảo A. Chị Vũ Ngọc T không yêu cầu anh Cầm Hiếu Bảo L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Vũ Ngọc T cam đoan không có nợ chung.
Trong bản tự khai, bị đơn anh Cầm Hiếu Bảo L trình bày (Có xác nhận của trại giam Yên Hạ, Cục C10, Bộ Công an):
Về hôn nhân: Anh Cầm Hiếu Bảo L và chị Vũ Ngọc T kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn năm 2016, tại Ủy ban nhân dân xã CL, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh L và chị T đã sống ly thân. Anh Cầm Hiếu Bảo nhất trí ly hôn với chị Vũ Ngọc T.
Về con chung: Anh Cầm Hiếu Bảo L và chị Vũ Ngọc T có 01 (một) con chung là cháu Cầm Ngọc Bảo A, sinh ngày 02/8/2016. Anh Cầm Hiếu Bảo L đề nghị để ông, bà nội được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Cầm Ngọc Bảo A, sinh ngày 02/8/2016.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh Cầm Hiếu Bảo L khai không có nợ chung.
Nguyên đơn không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do Tòa án thu thập và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Chị Vũ Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.
Anh Cầm Hiếu Bảo L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh L giữ nguyên ý kiến trong bản tự khai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đang chấp hành án tại trại giam Yên Hạ, Cục C10, Bộ Công an đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về tình cảm: Xử cho chị Vũ Ngọc T được ly hôn anh Cầm Hiếu Bảo L.
Về con chung: Giao cháu Cầm Ngọc Bảo A, sinh ngày 02/8/2016 cho chị Vũ Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Cầm Hiếu Bảo L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Nguyên đơn chị Vũ Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vũ Ngọc T yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Cầm Hiếu Bảo L có địa chỉ tại bản Pán, xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Vũ Ngọc T, bị đơn anh Cầm Hiếu Bảo L: Nguyên đơn chị Vũ Ngọc T, bị đơn anh Cầm Hiếu Bảo L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Ngọc T và anh Cầm Hiếu Bảo L kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 14/3/2019, tại Ủy ban nhân dân xã CL, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh L nghiện ma túy, dẫn đến bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh Cầm Hiếu Bảo L đang chấp hành án tại đội 27, phân trại số 01, trại giam Yên Hạ, Cục C10, Bộ Công an. Chị T cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Cầm Hiếu Bảo L. Anh Cầm Hiếu Bảo L nhất trí ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh L trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Vũ Ngọc T được ly hôn anh Cầm Hiếu Bảo L. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị Vũ Ngọc T và anh Cầm Hiếu Bảo L có 01 (một) con chung, cháu Cầm Ngọc Bảo A, sinh ngày 02/8/2016. Hiện tại cháu Cầm Ngọc Bảo A đang được chị T chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị Vũ Ngọc T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Cầm Ngọc Bảo A. Do anh L đang đi chấp hành án, anh L đề nghị để ông, bà nội được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Cầm Ngọc Bảo A.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, tài liệu thu thập của Toà án: Chị T có nơi cư trú ổn định, lao động, buôn bán tự do, có thu nhập. Anh Cầm Hiếu Bảo L không có công việc, thu nhập, anh L nghiện ma túy (đang chấp hành án).
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về thể chất, tinh thần, cần giao cháu Cầm Ngọc Bảo A cho chị Vũ Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Cầm Hiếu Bảo L không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị T không yêu cầu, anh L không có khả năng cấp dưỡng).
Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: Không có.
[5] Về tài sản riêng: Không có.
[6] Về nợ chung: Chị Vũ Ngọc T, anh Cầm Hiếu Bảo L không có nợ chung.
[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Vũ Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Ngọc T được ly hôn anh Cầm Hiếu Bảo L.
- Về con chung: Chị Vũ Ngọc T, anh Cầm Hiếu Bảo L có 01 (một) con chung là cháu Cầm Ngọc Bảo A, sinh ngày 02/8/2016. Giao cháu Cầm Ngọc Bảo A cho chị Vũ Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về tài sản riêng: Không có.
- Về nợ chung: Chị Vũ Ngọc T và anh Cầm Hiếu Bảo L không có nợ chung.
- Về án phí: Chị Vũ Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000918, ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Ngọc T, anh Cầm Hiếu Bảo L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Cầm Hiếu Bảo L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |
Bản án số 13/2024/HNGĐ- ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
