TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/9/2024
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hoàng Giáp
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quốc Trị .
Ông Hà Xuân Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Hồng Mơ - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Thu Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 32/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
- Bị đơn: anh Tống Công H1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Xóm A, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình.
Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt; anh H1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 3 năm 2024, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Vợ chồng chị H anh H1 được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 06/02/2018, tại UBND xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc, đến năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H1 chơi bời, không tu chí làm ăn, không lo cho vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, xô xát với nhau gây lo lắng cho bản thân chị và ảnh hưởng đến tâm lý con cái. Cũng do công việc nên chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình sinh sống cho đến nay. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Tống Công H1.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Tống Công N, sinh ngày 06/9/2017 và cháu Tống Công T, sinh ngày 12/12/2020; hiện hai cháu đang ở cùng chị H. Khi ly hôn chị H đề nghị giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con cho đến khi các cháu trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không đề nghị anh H1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản chung và công nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị H giao nộp Đơn xác nhận tình trạng hôn nhân có xác nhận của Chi hội trưởng phụ nữ và phó trưởng xóm 10, xác nhận của UBND xã L, huyện G. Chị H giao nộp Đơn xác nhận có xác nhận của UBND thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình và Trường mầm non H2 thuộc Phòng giáo dục đào tạo huyện L, tỉnh Hòa Bình xác nhận về nơi làm việc, mức thu nhập hiện tại của chị H.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt và thông báo hợp lệ văn bản tố tụng nhưng anh H1 đã không đến Tòa án làm việc.
Toà án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ tại UBND xã L, xác định: anh Tống Công H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại xóm A, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình; chị H và anh H1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã L; anh H1 hiện đang làm nghề lao động tự do tại địa phương, mức thu nhập tại địa phương khoảng 4.000.000 đồng/tháng.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Tống Công H1 vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn trình bày ý kiến việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Tống Công H1; Về con chung: Giao cháu Tống Công N, sinh ngày 06/9/2017 và cháu Tống Công T, sinh ngày 12/12/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con; được quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung; chị H phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là anh Tống Công H1 có nơi cư trú tại: xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Quá trình tố tụng, vụ việc được chuyển sang thủ tục hòa giải đối thoại tại Tòa án, tuy nhiên việc hòa giải, đối thoại đã chấm dứt theo khoản 3 Điều 40 Luật Hòa giải Đối thoại tại Tòa án. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177; Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh Tống Công H1. Anh Tống Công H1 vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.
Chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tống Công H1 vắng mặt không có lý do lần thứ 2 tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh H1 theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị H và anh Tống Công H1 được tự do tìm hiểu, tự nguyên kết hôn và có đăng ký kết hôn tại kết hôn ngày 06/02/2018, tại UBND xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Việc kết hôn của chị H, anh H1 đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Tống Công H1 là hợp pháp.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định quá trình chung sống chị H và anh H1 hạnh phúc được một thời gian đầu, đến đầu năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H1 chơi bời, không tu chí làm ăn, không lo cho vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, xô xát với nhau gây lo lắng cho bản thân chị và ảnh hưởng đến tâm lý con cái. Cũng do công việc nên chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình sinh sống cho đến nay. Anh H1 mặc dù đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng của Tòa án, đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án làm việc, hòa giải đoàn tụ vợ chồng nhưng anh H1 vẫn cố tình vắng mặt, không tham gia các buổi làm việc, hòa giải. Như vậy, chứng tỏ anh H1 không có thiện chí, không hợp tác để Tòa án hòa giải mâu thuẫn, hàn gắn quan hệ vợ chồng.
Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Nguyễn Thị H và anh Tống Công H1 đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
[3]. Về con chung: Trên cơ sở trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ, xác định chị H và anh H1 có hai con chung là cháu Tống Công N, sinh ngày 06/9/2017 và cháu Tống Công T, sinh ngày 12/12/2020, hiện các cháu đang ở cùng chị H.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H đã đề nghị Tòa án cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cả hai con, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng. Xét thấy bản thân chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả hai con, không vi phạm nghĩa vụ làm mẹ đối với con của mình là người có đủ điều kiện sức khỏe, có khả năng tạo ra thu nhập và các điều kiện khác đảm bảo cho việc nuôi dạy con chung; các cháu còn nhỏ đang trực tiếp ở cùng chị H, cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Bản thân chị H cũng chăm sóc cho các cháu rất tốt, đảm bảo các điều kiện cho các cháu học tập và phát triển. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu cần giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Tống Công N và Tống Công T là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H1 đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm giải quyết vụ án, trong đó có vấn đề nuôi con chung, tuy nhiên anh H1 cố tình không đến. Do vậy Tòa án không ghi nhận được quan điểm của anh H1 về vấn đề người trực tiếp nuôi con. Theo quy định của pháp luật, trong quá trình nuôi con, các bên khi đủ điều kiện thì không bị hạn chế quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, do vậy trường hợp anh H1 muốn thay đổi người trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng cho con: chị H tự xác định đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng cho con; Hội đồng xét xử xét thấy đây là ý chí tự nguyện của chị H, cần được chấp nhận.
[4] Về tài sản và công nợ chung: chị H xác định tự thoả thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết; anh H1 vắng mặt không có ý kiến gì vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết là phù hợp.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Tống Công H1.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Tống Công N, sinh ngày 06/9/2017 và cháu Tống Công T, sinh ngày 12/12/2020 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng cho con: Anh Tống Công H1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị H.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh H1 do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân huyện Gia Viễn theo biên lai số 0000936 ngày 04/4/2024.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Hoàng Giáp |
Bản án số 13/2023/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 13/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châp nhận yckk
