Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST

Ngày 09-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Công Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phương Anh Tư.

Bà Hoàng Thị Thiều.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Lệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Dương Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 02/TB-TA ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:

Lường Văn K, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1993, tại: Huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn L và bà Dương Thị N; vợ: Tô Thanh S (đã ly hôn); con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; về nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm lần nào. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/01/2024 Công an huyện B phối hợp với Công an xã T, huyện B đang làm nhiệm vụ thì phát hiện tại khu vực bãi đất trống thuộc thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đối tượng Lường Văn K, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an đã tiến hành kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác bên phải Lường Văn K đang mặc có một gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy H, một bật lửa màu đỏ, một mảnh giấy màu vàng; theo lời khai của K gói giấy nhỏ màu trắng là chất ma túy Heroin, bật lửa và mảnh giấy màu vàng là dụng cụ K vừa lấy từ nhà ra mục đích để sử dụng chất ma túy Heroin, khi chưa kịp sử dụng thì bị Lực Lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật đồng thời đưa người cùng vật chứng Công an huyện B để điều tra làm rõ.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lường Văn K, tuy nhiên không thu giữ, đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của K.

Ngày 20/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 28/QĐ-CQĐT để trưng cầu đối với vật chứng thu giữ của Lường Văn K. Tại bản Kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1 công an tỉnh L:

- Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,174 gam (đã trừ bì).

Quá trình điều tra làm rõ khoảng 15 giờ ngày 20/01/2024 Lường Văn K một mình đi ô tô khách đến thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy về sử dụng. Khoảng 16 giờ Lường Văn K đến khu vực ngã tư đèn xanh đèn đỏ thuộc thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, tại đây K gặp một người đàn ông làm nghề lái xe ôm có đặc điểm giống người nghiện chất ma túy (không biết tên tuổi, địa chỉ), K đến gần và hỏi “có gì không anh?” (ý hỏi có ma túy heroin bán không), người đàn ông trả lời “có, lấy bao nhiêu”, K nói “lấy hai trăm” (ý nói mua 200.000₫ tiền mua túy heroin), người đàn ông nói tiếp “đưa tiền đây, đợi một lúc”, K đưa cho người đàn ông số tiền 200.000đ (tờ tiền mệnh giá 200.000₫), sau đó người đàn ông đi đâu K không biết. Khoảng 10 phút sau người này quay lại đưa cho K một gói ma túy heroin được gói bằng giấy màu trắng, K cầm lấy rồi cất vào túi áo bên phải đang mặc sau đó bắt xe ô tô khách đi về nhà. Khoảng 18 giờ K về đến nhà tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, đến khoảng 18 giờ 15 phút do có nhu cầu sử dụng ma túy heroin nên K vào bếp lấy 01 (một) cái bật lửa màu đỏ và một tờ giấy bạc màu vàng cất vào túi áo bên phải đang mặc cùng gói ma túy mới mua được đi bộ ra bãi đất trống gần nhà để sử dụng ma túy, khi vừa đến khu vực bãi đất trống, chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSBS, ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lường Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Bản cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lường Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50, của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lường Văn K từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ghi chữ “Tang vật thu giữ của Lường Văn K" (cũ). Bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng 0,145 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu vật giám định hết) và 01 (một) vỏ giấy (cũ); 01 (một) phong bì thư niêm phong, dán kín, bên trong phong bì có 01 (một) mảnh giấy màu vàng, 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ, tình trạng cũ đã qua sử dụng. Mặt trước phong bì có dòng chữ viết tay “Tang vật thu giữ của Lường Văn K khi bắt quả tang”.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Lường Văn K, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là đối tượng nghiện chất ma túy Heroin nên thường xuyên mua ma túy về sử dụng. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/01/2024 tại khu vực bãi đất trống thuộc thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang Lường Văn K đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,174 gam chất ma túy Heroin. Mục đích là để sử dụng thỏa mãn cơn nghiện. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lường Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  3. Cáo trạng số 11/CT-VKSBS, ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lường Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  4. Đây là vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là người nghiện ma túy nên hiểu được tác hại của ma túy đối với con người, cộng đồng và xã hội, bị cáo cũng nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện ma túy nên vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và đó cũng là nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục bị cáo và răn đe, làm gương cho những người khác có ý định thực hiện hành vi phạm tội tương tự.
  5. Để cá thể hoá hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt.

    Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân không tốt vì là người nghiện ma túy. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  6. Từ những phân tích trên khi lượng hình cần quyết định một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bảo đảm tính giáo dục và có tính răn đe, phòng ngừa chung.
  7. Bị cáo là người nghiện ma túy nên mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội đồng thời răn đe, làm gương cho những người khác có ý định thực hiện hành vi phạm tội tương tự. Xét thấy qua xác minh bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  8. Luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.
  9. Về nguồn gốc gói ma túy bị thu giữ, do K không biết tên, tuổi, địa chỉ, lai lịch của người bán ma túy nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
  10. Vật chứng của vụ án:
    • 01 (một) phong bì ghi chữ “Tang vật thu giữ của Lường Văn K" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng K1 tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng 0,145 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu vật giám định hết) và 01 (Một) vỏ giấy (cũ) là của bị cáo Lường Văn K mua về để sử dụng là vật cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
    • 01 (một) phong bì thư niêm phong, dán kín, bên trong phong bì có 01 (một) mảnh giấy màu vàng, 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ, tình trạng cũ đã qua sử dụng. Mặt trước phong bì có dòng chữ viết tay “Tang vật thu giữ của Lường Văn K khi bắt quả tang” mặt sau phong bì có chữ ký cùng hình dấu, chữ ký của Công an xã T và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong là của bị cáo Lường Văn K để thực hiện hành vi sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  11. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  12. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50, của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 20 tháng 01 năm 2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ghi chữ “Tang vật thu giữ của Lường Văn K" (cũ), bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,145 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu vật giám định hết) và 01 (một) vỏ giấy (cũ). 01 (một) phong bì thư niêm phong, dán kín, bên trong phong bì có 01 (một) mảnh giấy màu vàng, 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ, tình trạng cũ đã qua sử dụng. Mặt trước phong bì có dòng chữ viết tay “Tang vật thu giữ của Lường Văn K khi bắt quả tang”.

    (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thị hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

  4. Về án phí: Bị cáo Lường Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn;
  • - Công an huyện Bắc Sơn;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 13/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger