Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST

Ngày 09 tháng 01 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư

2. Bà Nguyễn Thị Vượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 266/2023/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Mai Văn K

Họ và tên: Mai Văn K, sinh năm 1991; Tên gọi khác: Không; Tại: Bắc Giang. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Văn hóa: 12/12. Con ông: Mai Văn T, sinh năm 1964 và bà: Hà Thị T1, sinh năm 1966. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Hồ Thị L, sinh năm 1994. Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị cáo dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại

( Có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại:

  • - Ông Hà Chí L1, sinh năm 1970(Đã chết)
  • Địa chỉ: tổ dân phố S, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  • Người đại diện hợp pháp của ông L1:
  • - Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1938(Vắng mặt)
  • Địa chỉ: tổ dân phố C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  • - Bà Đỗ Thị T3, sinh năm 1977(Có mặt)

Địa chỉ: Số nhà A, ngách E, tổ dân phố S, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

  • - Chị Hà Thị Thu T4, sinh năm 2001(Có mặt)
  • - Cháu Hà Chí Đ, sinh năm 2011(Vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của cháu Hà Chí Đ: Bà Đỗ Thị T3, sinh năm 1977 (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Số nhà A, ngách E, tổ dân phố S, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Đỗ Thị T3, sinh năm 1977(Có mặt)

Địa chỉ: Số nhà A, ngách E, tổ dân phố S, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi tối ngày 24/4/2023, Mai Văn K, sinh năm 1991, trú tại thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 98B2-175.45 đi từ phòng trọ của K tại huyện T, tỉnh Bắc Ninh theo Quốc lộ A cũ để về nhà. K có giấy phép lái xe mô tô số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 23/2/2013.

Khoảng 19 giờ 17 phút cùng ngày, Mai Văn K điều khiển xe mô tô đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường X và đường L thuộc địa phận phường X, thành phố B. K giữ nguyên tốc độ khoảng 40km/h và tiếp tục điều khiển xe đi thẳng. Cùng lúc này, ông Hà Chí L1, sinh năm 1970, trú tại tổ dân phố S, phường X, thành phố B đi xe đạp trên đường X theo hướng ngược chiều với xe mô tô do K điều khiển. Khi ông L1 đạp xe đi đến khu vực ngã ba thì rẽ trái vào đường L. Do không chú ý quan sát nên xe mô tô BKS 98B2-175.45 do K điều khiển đâm vào phía khung bên phải xe đạp của ông L1. Hậu quả làm ông L1 và K bị ngã xuống đường. Ông L1 bị thương nặng nằm bất tỉnh. K đứng dậy, dựng xe mô tô lên rồi đi đến bế ông L1 ngồi tựa và cột điện sát vỉa hè. Một lúc sau, một người đàn ông (không xác định được) đi xe máy trên đường. K nhờ người đàn ông này điều khiển xe máy chở K và ông L1 đến Trạm y tế phường X. Sau đó, K cùng gia đình ông L1 đến đưa ông L1 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B rồi chuyển đến Bệnh viện V cấp cứu. Do ông L1 bị chấn thương sọ não nặng nên gia đình xin ra viện về nhà. Đến ngày 27/4/2023 thì ông L1 bị chết.

Kết quả dựng lại hiện trường ngày 15/5/2023:

Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là khu vực ngã ba đường Xương Giang giao với đường L, tổ N, phường X, thành phố B. Đường Xương G có mặt đường rộng 18m, đường L có mặt đường rộng 15m. Đây là ngã ba giao cắt không có đèn tín

hiệu giao thông, không có vòng xuyến. Trên đường X trước khi vào ngã ba giao cắt đều có cắm biển cảnh báo số 207b, 207c, 423a cảnh báo giao nhau giữa đường ưu tiên và đường không ưu tiên.

Vị trí xe đạp màu sơn xám đổ nghiêng phải trên mặt đường X, đầu xe hướng T, đuôi xe hướng Đông Bắc. Đo khoảng cách từ tâm đầu trục bánh trước, sau xe đạp cách mép phải đường X theo hướng từ đường N đến đường G lần lượt là 2,15m và 2,85m. Đo khoảng cách tâm đầu trục bánh trước xe đạp cách cột điện chiếu sáng số 2-II-III/AÐ-XG bên mép phải đường X là 2,55m.

Vị trí xe mô tô biển số 98B2-175.45 đổ nghiêng trái trên mặt đường X, đầu xe hướng Đông Bắc, đuôi xe hướng Tây Nam. Đo khoảng cách tâm đầu trục bánh trước, sau xe mô tô cách mép phải đường X theo hướng từ đường N đến đường G lần lượt là 4,95m và 4,5m. Đo khoảng cách tâm đầu trục bánh trước xe mô tô cách tâm đầu trục bánh sau xe đạp là 2,15m.

Kết quả khám phương tiện xe mô tô BKS 98B2-175.45:

Mặt ngoài má lốp bánh trước bên phải tại vị trí gần nhất cách chân van 20,5cm ngược chiều tiến của bánh xe có vết mài sát cao su bám dính chất màu trắng nghi sơn kích thước (17x3,5)cm.

Để chân trước bên trái cong chùn hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên, đầu ngoài có vết mài sát kim loại kích thước (1x1)cm.

Kết quả khám nghiệm xe đạp:

Đầu ngoài tay nắm phải có vết mài sát kim loại, mài sát nhựa kích thước (1,7x1)cm. Đầu ngoài bàn đạp bên phải có vết mài sát nhựa, rách nhựa kích thước (4,5x3)cm. Ốp kim loại bảo vệ xích xe bên phải cong chùn kim loại, bẹp móp kim loại hướng từ phải qua trái kích thước (22x15,5)cm.

Khung xe bên phải tại vị trí bánh sau có vết mài sát kim loại, sạch bụi bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (11x2)cm.

Sau khi ông Hà Chí L1 bị chết, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã thành lập hội đồng khám nghiệm tử thi nhưng gia đình ông L1 cương quyết từ chối và không cho khám nghiệm tử thi nên không khám nghiệm tử thi theo quy định (bút lục 133-134). Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết và cơ chế hình thành thương tích của ông Hà Chí L1.

Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 40/23/KLTTHS-PYQG ngày 29/6/2023 của V1 kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • - Chấn thương sọ não nặng, vỡ xương sọ, gãy cung tiếp gò má phải. Chảy máu, tụ máu nội sọ ngoài màng cứng, dưới màng cứng, chảy máu dưới nhện, dập não. Hôn mê sâu.
    • - Tiền sử xơ gan.
    • - Điều trị không phục hồi.
  2. Không mổ tử thi, không làm các xét nghiệm bổ sung.
  3. Kết luận:

Do không mổ tử thi và làm các xét nghiệm bổ sung nên không xác định được chính xác nguyên nhân tử vong của ông Hà Chí L1.

Căn cứ qua hồ sơ, bệnh án nhận định nguyên nhân tử vong của ông Hà Chí L1 là do chấn thương sọ não nặng (chảy máu, tụ máu nội sọ, dập não) điều trị không kết quả.

Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 51/23/KLTTHS-PYQG ngày 27/10/2023 của V1 kết luận:

Trường hợp ông Hà Chí L1 điều khiển xe đạp va chạm với xe mô tô khiến ông L1 bị ngã ra đường, vùng lưng và vùng đầu của cơ thể tiếp xúc với mặt đường trên bệnh nhân xơ gan, rối loạn đông máu có thể gây ra được chấn thương sọ não nặng (chảy máu, tụ máu nội sọ, dập não) dẫn đến tử vong.

Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 53/23/KLTTHS-PYQG ngày 31/10/2023 của V1 kết luận:

  • - Xơ gan, rối loạn đông máu ảnh hưởng đến khả năng cầm máu của cơ thể trong chấn thương sọ não của Hà Chí L1.
  • - Rối loạn đông máu ảnh hưởng đến kết quả điều trị làm không cầm được máu, không có khả năng điều trị phục hồi khối lượng máu chảy nội sọ tăng lên gây chèn ép sọ não dẫn đến phù não - tổn thương chức năng thần kinh và dẫn đến tử vong.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trưng cầu giám định cơ chế hình hành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông; xác định điểm va chạm và tư thế của ông Hà Chí L1 bị ngã khi xảy ra tai nạn.

Kết luận giám định số 1146/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

  1. Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su), hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái ở mặt ốp kim loại hộp xích và khung kim loại bên phải thân xe đạp phù hợp với dấu vết mài trượt mất cao su, bám dính mảng màu trắng (dạng sơn, nhựa), hướng ngược chiều chuyển động tiến ở mặt lăn và bên phải má lốp bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98B2-175.45 (ảnh 5, 6 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
  2. Dấu vết trượt xước nhựa, kim loại ở đầu ngoài tay nắm bên phải và bàn đạp bên phải của xe đạp ảnh 5, 6 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên.
  3. Dấu vết trượt xước cao su, chùn cong kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá), hướng từ trước ra sau ở đầu ngoài để chân trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98B2-175.45 được hình thành do va chạm với vật tày cứng bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên.
  1. Không xác định được chiều hướng chuyển động của hai phương tiện và thời điểm xảy ra va chạm.

Kết luận giám định bổ sung số 1452/KL-KTHS ngày 09/8/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

  1. Tại thời điểm 19 giờ 17 phút 56 giây ngày 24/4/2023 (thời gian thể hiện trên khung hình của file video) xảy ra va chạm giữa xe mô tô với xe đạp, không xác định được vị trí va chạm giữa hai phương tiện thuộc phần đường nào, do hai phương tiện va chạm trong khu vực ngã ba giao nhau, không có vạch kẻ đường.
  2. Tại thời điểm 19 giờ 17 phút 57 giây ngày 24/4/2023 quan sát thấy vùng lưng và vùng đầu của cơ thể người tiếp xúc với mặt đường.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 03 file video thu giữ tại khu vực hiện trường và tại Trạm y tế phường X ghi lại hình ảnh diễn biến vụ tai nạn giao thông và hình ảnh Khoa đưa nạn nhân đi cấp cứu.

Kết luận giám định số 1128/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video gửi giám định.
  2. Trích xuất được 16 (mười sáu) hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong các file video gửi giám định

Trong quá trình điều tra, Mai Văn K khai nhận điều khiển xe mô tô khi đi đến khu vực ngã ba đường X giao với đường L do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã gây tai nạn làm ông Hà Chí L1 bị thương nặng sau đó chết.

Về bồi thường dân sự: Mai Văn K đã bồi thường gia đình ông Hà Chí L1 số tiền 150.000.000 đồng. Gia đình ông L1 không yêu cầu phải bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại Mai Văn K chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 98B2-175.45 kèm theo đăng ký xe; trả lại bà Đỗ Thị T3 là vợ ông L1 chiếc xe đạp.

Quá trình điều tra, bị cáo Mai Văn K đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 18 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Mai Văn K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Mai Văn K khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng tội, không oan sai. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất. Về phần trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 150.000.000 đồng.

Bà Đỗ Thị T3 là đại diện hợp pháp của ông Hà Chí L1 có mặt tại phiên tòa, trình bày như sau: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bà tổng số tiền 150.000.000 đồng và bà đã nhận lại xe đạp, không có ý kiến gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Chị Hà Thị Thu T4 là đại diện hợp pháp của ông Hà Chí L1 có mặt, nhất trí với trình bày của bà T3.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Mai Văn K 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách

  1. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1,
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Mai Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để chăm lo con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội động xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố

tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự có mặt của đương sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt Người đại diện hợp pháp của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ 17 phút ngày 24/4/2023, Mai Văn K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát BKS 98B2-175.45 đi trên Quốc lộ A cũ theo hướng thành phố B đi L. Khi K điều khiển xe đi đến khu vực ngã ba đường X giao với đường L thuộc địa phận phường X, thành phố B do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã va chạm với xe đạp do ông Hà Chí L1 điều khiển đi ngược chiều đang rẽ trái vào đường L. Hậu quả làm ông L1 bị chấn thương sọ não nặng được đưa đi cấp cứu đến ngày 27/4/2023 thì bị chết. Hành vi của Mai Văn K đã vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1.

Ông Hà Chí L1 cũng có lỗi vì điều khiển xe đạp khi chuyển hướng nhưng không chú ý quan sát và không nhường đường cho xe đi ngược chiều đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.

Hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của Mai Văn K1 đã vi phạm Luật giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm các quy định khi tham gia giao thông của bị cáo K làm chết 1 người, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm những quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội. Do vậy cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

[5] Xét về mức độ lỗi: Bị cáo là người có giấp phép lái xe theo quy định, nhưng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ đã vi phạm Điều 12 Luật giao đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT – BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1. Tuy nhiên, trong vụ án này bị hại cũng có lỗi vì điều khiển xe đạp khi chuyển hướng nhưng không chú ý quan sát và không nhường đường cho xe đi ngược chiều đã vi phạm khoản

2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Do vậy cần xem xét mức độ lỗi của bị hại để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.

[6] Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị xét xử hình sự và bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào.

[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[8] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo phải không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[9] Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Mặc dù hậu quả của hành vi phạm tội là nghiêm trọng với lỗi vô ý, bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa từng bị xét xử, là người chăm chỉ lao động, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu trong cuộc sống đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ sở cho bị cáo sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy, chưa cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ để bị cáo lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Đến nay đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác. Xét thấy sự thoả thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử không đặt xem xét, giải quyết.

[11] Về vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mai Văn K cần trả lại bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQD14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Văn K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  1. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Mai Văn K 01 giấy phép lái xe hạng A1.

(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKS ngày 18/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang).

  1. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Mai Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
  3. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND TP Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT TP Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - UBND xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang,
  • tỉnh Bắc Giang
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về hình sự sơ thẩm - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 13/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger