Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/KDTM-PT

Ngày: 08/8/2024

V/v: “Tr/c HĐ thi công xây dựng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường;

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Nhiên;

Bà Ngô Thị Minh Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Bà Châu Thùy Tam - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLPT-KDTM về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 05/2023/KDTM-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐPT-KDTM ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên M.

Địa chỉ: A M, phường R, thành phố R, Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Văn P - Giám đốc.

- Bị đơn: Công ty TNHH Một thành viên T1.

Địa chỉ: Số I T, khu phố G, phường D, thành phố P, Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Diệp Nguyên Q - Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc S - Phó Giám đốc.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm: 1975.

Địa chỉ: Tổ C, khu phố D, phường A, thành phố P, Kiên Giang.

(Ông P, ông S có mặt, ông V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 05/02/2015, Công ty TNHH Một thành viên M (gọi tắt là Công ty M) và Công ty TNHH Một thành viên T1 (gọi tắt là Công ty T1) ký kết hợp đồng thi công số 12, Công ty T1 yêu cầu Công ty M thi công trạm biến áp công suất 560kVA, trạm biến áp này được đặt tại khách sạn của Công ty T1, số I đường T, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Thời gian thi công khoảng 03 tháng tính từ ngày ký hợp đồng. Giá trị hợp đồng là 540.000.000 đồng theo đơn giá trọn gói, thời hạn bảo hành là 12 tháng, kể từ ngày nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng.

Công trình đã được nghiệm thu và bàn giao cho Công ty T1 sử dụng khoảng 04 tháng thì bị sự cố, do xe cuốc của công trình thi công của Công ty T1 làm đứt dây điện tại phần hạ thế và nổ biến áp. Sau đó, Công ty M cho Công ty T1 mượn máy cũ sử dụng, Công ty M đem máy bị sự cố đi bảo hành. Công ty T1 sử dụng máy cũ khoảng 02 tháng thì máy cũ bị chảy dầu, chảy rịnh không chảy nhiều, máy vẫn sử dụng bình thường. Máy mới đem đi bảo hành khoảng 02 tháng thì hoàn thành sử dụng bình thường, Công ty M điện thoại thông báo cho Công ty T1 để lắp lại máy đã bảo hành, nhưng Công ty T1 không đồng ý, vì Công ty T1 đã mua máy biến áp khác sử dụng.

Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty M đã tạm ứng của Công ty T1 02 lần, lần đầu tạm ứng 20.000.000 đồng, lần sau tạm ứng 4.550.000 đồng. Do Công ty T1 đã hợp đồng với Công ty khác lắp đặt máy biến áp hiệu Shihlin giá qua triết khấu còn lại là 256.620.000 đồng cộng với số tiền Công ty M đã tạm ứng nêu trên là 24.550.000 đồng, tổng cộng là 281.170.000 đồng, trừ vào giá trị hợp đồng là 540.000.000 đồng, còn lại là 258.830.000 đồng. Công ty M yêu cầu Công ty T1 thanh toán số tiền 258.830.000 đồng và trả lại Công ty M máy biến áp cũ đã cho Công ty T1 mượn sử dụng trong thời gian máy đi bảo hành.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện bị đơn trình bày:

Vào ngày 05/02/2015, hai Công ty ký kết hợp đồng thi công số 12, Công ty T1 yêu cầu Công ty M thi công đường dây trung thế và trạm biến áp 1 x 560kVA, máy biến áp 560kVA được đặt dưới nền tại Công ty T1 số 99 đường T, khu phố G, phường D, thành phố P. Thời gian thi công là từ ngày ký hợp đồng đến ngày 12/3/2015. Giá trị hợp đồng là 540.000.000 đồng theo đơn giá trọn gói, thời hạn bảo hành là 12 tháng kể từ ngày nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng.

Khi Công ty M lắp trạm biến áp tại Công ty T1 thì máy bị sự cố chảy nhớt và phát ra âm thanh rất lớn. Công ty M lắp máy cũ khác và đem máy mới đi bảo hành nhưng cũng không sử dụng được. Khi sự cố xảy ra Công ty T1 có điện thoại và gửi E cho Công ty M để khắc phục sự cố và đổi máy khác, nhưng Công ty M không nghe điện thoại và không trả lời E, nên Công ty T1 phải lắp máy biến áp khác để sử dụng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 có chi tạm ứng cho Công ty M số tiền trên 200 triệu đồng cho ông Huỳnh Văn P, ông Nguyễn Quốc VDiệp Văn T. Công ty T1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của Công ty M.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc V trình bày tại biên bản lấy lời khai:

Trước đây ông từng làm việc cho Công ty TNHH Một thành viên M nhưng không có hợp đồng lao động, làm việc khoảng năm 2013 đến năm 2015 thì nghỉ việc. Thời gian ông làm việc thì Công ty M nhận thi công và ông là người đứng ra thi công công trình đường dây trung thế và trạm biến áp tại số I T, khu phố G, phường D, thành phố P. Trong quá trình thi công, ông có tạm ứng của ông Diệp Nguyên Q khoảng 5, 6 lần với số tiền bao nhiêu ông không nhớ, ông có ký biên nhận tiền với ông Q nhiều lần với số tiền bao nhiêu ông không nhớ, mục đích ông nhận tiền của ông Q là để đóng tiền thiết kế cho điện lực và mua vật tư để lắp trạm điện, vì ông được sự quyết định của Công ty điều động ông làm chỉ huy trưởng công trình, thay mặt Công ty giải quyết mọi vấn đề liên quan. Ông P cho rằng số tiền 50.000.000 đồng là do cá nhân ông mượn của ông Q thì ông không đồng ý, vì ông được Công ty bổ nhiệm và thay mặt Công ty M giải quyết mọi vấn đề về thủ tục và tài chính liên quan đến thi công trạm biến áp nêu trên.

* Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 05/2023/KDTM-ST ngày 08 tháng 09 năm 2023 của Tòa án nhân dân TP. Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Một thành viên M, về việc tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng đối với Công ty TNHH Một thành viên T1.

- Buộc Công ty TNHH Một thành viên T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH Một thành viên M số tiền 110.675.000 đồng (một trăm mười triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

- Buộc Công ty TNHH Một thành viên T1 có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH Một thành viên M một máy biến áp 560kVA, số máy 142560153 theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 20/10/2023, Công ty TNHH Một thành viên T1 kháng cáo với nội dung:

Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đã xét xử áp dụng pháp luật không đúng quy định, không khách quan, không trung thực, đánh giá chứng cứ không toàn diện, không đúng bản chất sự việc, đã làm thiệt hại nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty chúng tôi.

Do đó, Công ty TNHH Một thành viên T1 yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Một thành viên M.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền 80.000.000 đồng và trả lại một máy biến áp 560kVA, số máy 142560153 theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc cho nguyên đơn.

- Nguyên đơn đồng ý với đề nghị của bị đơn về việc bị đơn thanh toán số tiền 80.000.000 đồng và trả lại một máy biến áp 560kVA, số máy 142560153 theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

+ Việc tuân theo theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về hướng giải quyết vụ án:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn thống nhất thỏa thuận với nhau: bị đơn đồng ý trả số tiền cho nguyên đơn 80.000.000 đồng và một máy biến áp 560kVA, số máy 142560153 theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc:

Buộc bị đơn Công ty TNHH Một thành viên T1 trả cho nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên M số tiền 80.000.000 đồng. Buộc Công ty TNHH Một thành viên T1 có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH Một thành viên M một máy biến áp 560kVA, số máy 142560153 theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục:

[1.1] Công ty TNHH Một thành viên T1 kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[1.2] Ông Nguyễn Quốc V đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án.

[2].Về nội dung:

Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất thừa nhận: Hai bên có ký kết hợp đồng số 12/2015 thi công trạm biến áp vào ngày 05/02/2015, nội dung: Công ty T1 yêu cầu Công ty M thi công trạm biến áp công suất 560kVA, trạm biến áp này được đặt tại khách sạn của Công ty T1, số I đường T, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Thời gian thi công khoảng 03 tháng tính từ ngày ký hợp đồng. Giá trị hợp đồng là 540.000.000 đồng, theo đơn giá trọn gói, thời hạn bảo hành là 12 tháng kể từ ngày nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng, khi ký hợp đồng Công ty M đã nhận tạm ứng của Công ty T1 số tiền 20.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty M đã thi công hoàn thành đường dây trung thế ngầm và trạm biến áp 1 x 560kVA theo hợp đồng số 12 nêu trên và được Điện lực Phú Quốc nghiệm thu đóng điện vận hành ngày 22/9/2015 (BL185-186) tại trụ sở Công ty T1 số 99 đường T, khu phố G, phường D, thành phố P. Công ty T1 cũng đã nhận bàn giao công trình và đưa vào sử dụng.

[2.3]. Xét kháng cáo của bị đơn đối chiếu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy:

Công ty M thống nhất khấu trừ số tiền tạm ứng theo các biên nhận ngày 23/10/2015 do ông Nguyễn Quốc V nhân viên Công ty M nhận 50.000.000 đồng (BL13), ngày 30/5/2015 ông V nhận 5.000.000 đồng (BL14), ngày 02/6/2015 ông V nhận 15.000.000 đồng, ngày 08/6/2015 ông V nhận 2.000.000 đồng, ngày 22/5/2015 ông V nhận 10.000.000 đồng và 2.000.000 đồng, ngày 04/11/2015 ông Diệp Văn T nhận 4.550.000 đồng và ông P nhận 20.00.000 đồng khi ký hợp đồng, tổng cộng là 108.550.000 đồng và khấu trừ giá trị máy biến áp Công ty T1 đã mua theo đơn giá là 320.775.000 đồng vào giá trị hợp đồng, còn lại số tiền bao nhiêu thì yêu cầu Công ty T1 trả lại cho Công ty M, đồng thời buộc Công ty T1 trả lại máy biến áp. Xét thấy, yêu cầu này của Công ty M là phù hợp chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thỏa thuận của hai Công ty tại Điều 6 hợp đồng thi công số 12 ngày 05/02/2015 (phương thức thanh toán hợp đồng khi nghiệm thu đóng điện hoàn thành đưa công trình vào sử dụng) và đúng theo quy định tại Điều 144 Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (về thanh toán hợp đồng xây dựng).

Hơn nữa, Công ty T1 không sử dụng máy biến áp của Công ty M, nên không phải thực hiện nghĩa vụ trả giá trị máy biến áp cho Công ty M. Máy biến áp Công ty T1 mua mới sử dụng được khấu trừ vào giá trị hợp đồng. Do Công ty T1 đang cất giữ máy biến áp của Công ty M lắp đặt thay thế trong thời gian bảo hành. Nên Công ty T1 có nghĩa vụ trả lại cho Công ty M máy biến áp này.

Xét thấy, hợp đồng thi công theo đơn giá trọn gói là 540.000.000 đồng, Công ty M đã tạm ứng theo chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và sự thừa nhận của đại diện Công ty M như nhận định nêu trên là 108.550.000 đồng và khấu trừ giá trị máy biến áp Công ty T1 đã mua sử dụng theo bảng giá là 320.775.000 đồng. Tổng là 429.325.000 đồng.

Như vậy Công ty T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty M số tiền còn lại là 540.000.000 đồng – 429.325.000 đồng = 110.675.000 đồng. Bản án sơ thẩm tuyên xử buộc Công ty T1 thanh toán cho Công ty M số tiền 110.675.000 đồng và giao trả một máy biến áp 560kVA, số máy 142560153 là có căn cứ.

Do tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của Công ty TNHH một thành viên MCông ty TNHH một thành viên T1 như sau:

Bị đơn Công ty TNHH Một thành viên T1 đồng ý trả cho nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên M số tiền 80.000.000 đồng và một máy biến áp 560kVA, số máy 142560153 theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

[3].Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nên án phí được tính lại như sau:

- Án phí sơ thẩm:

Công ty TNHH Một thành viên M không phải chịu án phí sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Công ty TNHH Một thành viên M 12.800.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0007456 ngày 01/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.

Công ty TNHH Một thành viên T1 phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với số tiền 80.000.000 đồng phải thanh toán cho Công ty TNHH Một thành viên M, án phí phải nộp là: 80.000.000đ x 5% = 4.000.000 đồng

- Án phí phúc thẩm:

Công ty TNHH Một thành viên T1 phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 (Hai triệu) đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 (Hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004295 ngày 14/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, Kiên Giang.

[4]. Về chi phí tố tụng:

Công ty TNHH Một thành viên M đã tự nguyện chịu và đã nộp xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 285, 290, 401, 402, 405 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 138, 139; điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 140; Điều 141, 144 Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ khoản 5 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Một thành viên T1.

Sửa Bản án sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Tuyên xử:

1. Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên M và bị đơn Công ty TNHH Một thành viên T1 như sau:

Công ty TNHH Một thành viên T1 đồng ý thanh toán cho Công ty TNHH Một thành viên M số tiền 80.000.000 (Tám mươi triệu) đồng và trả một máy biến áp 560kVA, số máy 142560153 theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

2. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm:

+ Công ty TNHH Một thành viên M không phải chịu án phí sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Công ty TNHH Một thành viên M 12.800.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0007456 ngày 01/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.

+ Công ty TNHH Một thành viên T1 phải nộp án phí sơ thẩm là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

- Án phí phúc thẩm:

Công ty TNHH Một thành viên T1 phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 (Hai triệu) đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 (Hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004295 ngày 14/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, Kiên Giang.

3. Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH Một thành viên M đã tự nguyện chịu và đã nộp xong.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND Tp. Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS Tp. Phú Quốc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Hoàng Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/KDTM-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng

  • Số bản án: 13/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng thi công xây dựng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger