Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PÁC NẶM

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS - ST

Ngày 06/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đại

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hạnh

Bà Ma Thị Thầm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Giang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Luận, bà Hứa Thị Hồng T - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Nhà văn hóa thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Triệu Thị T1 - Sinh ngày 06/01/1984; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; nơi sinh: huyện P, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Thôn K, xã G, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Mù chữ; con ông Triệu Văn L, sinh năm 1955 và bà Triệu Thị C, sinh năm 1955. Anh, chị em: có 07 anh, chị em, bị can con thứ ba; chồng: Triệu Văn C1, sinh năm 1981; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã tại xã G, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Phương B – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện P. Đại diện theo pháp luật: Ông Đào Duy H. Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Minh T2. Chức vụ: Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện P. Có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Triệu Văn C1, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn K, xã G, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu của gia đình, trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10 năm 2023 đến đầu tháng 11 năm 2023, mặc dù không được cơ quan có thẩm quyền cho phép, nhưng Triệu Thị T1 đã một mình tự ý sử dụng dao phát phá dây leo, chặt hạ cây vầu và cây gỗ từ nhóm VI đến nhóm VIII, hủy hoại 5.551 m² rừng sản xuất thuộc trạng thái rừng tự nhiên hỗn giao gỗ - tre nứa núi đất (HG1) tại lô 21, khoảnh 6, tiểu khu A thuộc thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Khu rừng thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Ngày 05/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện pác Nặm nhận được tin báo tố giác của quần chúng nhân dân về sự việc trên nên đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành xác minh vụ việc và khám nghiệm hiện trường.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 05 tháng 01 năm 2024, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, xác định: Hiện trường vụ hủy hoại rừng tại lô B, khoảnh 6, tiểu khu A thuộc thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, đối tượng quy hoạch là rừng sản xuất tự nhiên theo bản đồ quy hoạch ba loại rừng được phê duyệt tại Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh B. Tại hiện trường phát hiện 06 thân cây gỗ với nhiều nhóm gỗ khác nhau và 1.307 cây vầu bị chặt hạ đổ ngổn ngang về nhiều hướng khác nhau, còn sót lại gốc, ngọn, cành, thân cây, các vết chặt đều sắc gọn, có một số vết nham nhở, có để lại phần gốc nhô lên mặt đất có nhiều kích cỡ khác nhau. Trên diện tích rừng bị hủy hoại còn có 01 cây vầu và 79 cây gỗ SP chưa bị chặt hạ, có chiều cao trung bình từ 3 mét đến 13 mét, chu vi (vòng dây) gốc từ 39cm đến 90cm, các cây này đều ít cành, lá có độ tàn che nhỏ hơn 0,1 (không tạo được độ tàn che, ánh nắng mặt trời chiếu rọi xuống mặt đất). Tổng diện tích rừng bị hủy hoại là 5.551m² (năm nghìn năm trăm năm mốt mét vuông) nằm trong diện tích đất được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 097160, giao quản lý sử dụng 26.593,1m² đất rừng sản suất tại khu Đ, thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn cho Triệu Thị T1 và chồng là ông Triệu Văn C1, sinh năm 1981 trú tại thôn K, xã G, huyện P.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ban hành Yêu cầu số 115/QĐ-CSĐT, yêu cầu định giá đối với số lâm sản bị thiệt hại.

Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTX ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên Ủy ban nhân dân huyện P, kết luận: Tại thời điểm tháng 01 năm 2024, số gỗ tròn nhóm VI khối lượng là 0,462m³ trị giá 420.420 đồng, số gỗ tròn nhóm VIII có khối lượng 0,084m³ trị giá 71.400 đồng; số cây vầu có đường kính nhỏ hơn 6cm là 914 cây trị giá 9.140.000 đồng, số cây vầu có đường kính từ 6cm đến dưới 10cm là 393 cây trị giá 7.860.000 đồng. Tổng trị giá của cây gỗ và cây vầu là 17.491.820 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Triệu Thị T1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, việc phát phá rừng là do một mình bị cáo tự thực hiện, chồng bị cáo là Triệu Văn C1 đi làm ăn xa nhà nên không biết hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo tự nguyện nộp 2.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm để bồi thường thiệt hại.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, nguyên đơn dân sự Ủy ban nhân dân huyện P, người đại diện theo pháp luật ông Đào Duy H – Chủ tịch UBND huyện P ủy quyền cho ông Phạm Minh T2 – Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Pác Nặm yêu cầu bị cáo bồi thường với số tiền 17.491.820 đồng và yêu cầu nhận lại toàn bộ 06 cây gỗ từ nhóm VI đến nhóm VIII có khối lượng gỗ 0,546 m³ và 1307 cây vầu bị chặt hạ.

Vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án:

  • 06 cây gỗ bị chặt hạ các loại từ nhóm VI đến nhóm VIII tổng khối lượng 0,546m³; 1.307 cây vầu bị chặt hạ (cây nhỏ nhất có chu vi 12 cm, dài 4,1 m; cây to có chu vi 31 cm, dài 12 m).
  • 01 con dao bằng kim loại dài 53 cm, trong đó cán dao dài 28 cm, lưỡi dao dài 25 cm, bản dao rộng 4,5 cm. Tạm giữ của Triệu Thị T1.

Số vật chứng, tài sản trên hiện đang được bảo quản theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về kết quả khám nghiệm hiện trường; kết luận định giá tài sản.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSPN ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Triệu Thị T1 theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự về tội “Tội hủy hoại rừng”. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m²) đến dưới 10.000 mét vuông (m²);

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”

Tại phiên tòa:

  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm trong phần luận tội đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Thị T1 phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo. Về vật chứng tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 06 cây gỗ bị chặt hạ các loại từ nhóm VI đến nhóm VIII tổng khối lượng 0,546m³; 1.307 cây vầu bị chặt hạ (cây nhỏ nhất có chu vi 12 cm, dài 4,1 m; cây to có chu vi 31 cm, dài 12 m); tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại dài 53 cm, trong đó cán dao dài 28 cm, lưỡi dao dài 25 cm, bản dao rộng 4,5 cm. Về trách nhiệm dân sự, buộc bị có nghĩa vụ bồi thường cho Ủy ban nhân dân huyện P số tiền 17.491.820 đồng.
  • * Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát, đồng ý bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
  • * Người bào chữa cho bị cáo nhận thấy việc xét xử bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm nhằm bồi thường thiệt hại, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.
  • * Nguyên đơn dân sự có đơn xin xét xử vắng mặt và thay đổi yêu cầu, cụ thể: Yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân huyện P với số tiền 17.491.820đ ( Mười bảy triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm hai mươi đồng); đối với 06 cây gỗ từ nhóm VI đến nhóm VIII có khối lượng gỗ 0,546 m³ và 1307 cây vầu bị chặt hạ, yêu cầu giải quyết theo pháp luật.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Triệu Văn C1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
  • * Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy mình đã vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

    Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:

    Do có nhu cầu của gia đình, bị cáo đã có hành vi phát phá rừng để trồng cây gỗ mỡ, nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10 năm 2023 đến đầu tháng 11 năm 2023, bị cáo Triệu Thị T1 đã có hành vi hủy hoại 5.551m² rừng sản xuất thuộc trạng thái rừng tự nhiên hỗn giao gỗ - tre nứa núi đất (HG1) tại lô 21, khoảnh 6, tiểu khu A thuộc thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, khu rừng do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn quản lý, gây thiệt hại 06 cây gỗ từ nhóm VI đến nhóm VIII có khối lượng 0.546 m³ và 1.307 cây vầu có tổng trị giá là 17.491.820 đồng.

  3. Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo bệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái, làm gia tăng tình hình tội phạm về khai thác và bảo về rừng trên địa bàn. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trong khi bị cáo có đầy đủ năng lực về trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy cần xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, không biết chữ, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên cũng hạn chế về nhận thức pháp luật, vì vậy khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
  4. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

    Bị cáo Triệu Thị T1 sinh ra tại huyện P, không được đi học, lớn lên ở nhà lao động tự do. Từ cuối tháng 10 năm 2023 đến đầu tháng 11 năm 2023, có hành vi hủy hoại 5.551m² rừng sản xuất, ngày 18 tháng 3 năm 2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P khởi tố bị can, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo có nhân thân tốt. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo tự nguyện nộp một khoản tiền tại Chị cục thi hành án dân sự huyện Pác nặm nhằm bồi thường thiệt hại, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

    Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội vẫn đảm bảo giáo dục, cải tạo được bị cáo, nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với bị cáo, cho bị cáo được giáo dục, thử thách tại địa phương để bị cáo có điều kiện cải tạo, sửa chữa lỗi lầm.

  5. Về hình phạt bổ sung và án phí: Căn cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không có thu nhập, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  6. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự có đơn xin vắng mặt và yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại với số tiền 17.491.820đ ( Mười bảy triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm hai mươi đồng). Xét yêu cầu của Nguyên đơn dân sự là có căn cứ theo kết luận định giá tài sản, cần được xem xét chấp nhận.

    Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tự nguyện nộp một khoản tiền là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm nhằm bồi thường thiệt hại. Cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

  7. Hội đồng xét xử xét thấy bản cáo trạng số 12/CT-VKSPN ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm đã truy tố đối với Triệu Thị T1 theo quy định tại điểm b khoảng 1 Điều 243 Bộ luật hình sự về tội “Tội hủy hoại rừng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  8. Về các nội dung đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa gồm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 65, điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo Triệu Thị T1 mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo; về hình phạt bổ sung và án phí không áp dụng; về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho UBND huyện P số tiền 17.491.820 đồng; xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Xét nội dung đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật.
  9. Về ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được xem xét xhấp nhận.
  10. Về vật chứng của vụ án:

    Tổng 06 cây gỗ bị chặt hạ các loại từ nhóm VI đến nhóm VIII tổng khối lượng 0,546m³; 1.307 cây vầu bị chặt hạ (cây nhỏ nhất có chu vi 12 cm, dài 4,1 m; cây to có chu vi 31 cm, dài 12 m). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã giao cho Ủy ban nhân dân xã G phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện P quản lý. Đây là tài sản của nhà nước do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó số vật chứng này cần được tịch thu, hóa giá để sung công quỹ nhà nước.

    Đối với dụng cụ mà bị cáo sử dụng để huỷ hoại rừng là 01 con dao bằng kim loại dài 53 cm, trong đó cán dao dài 28 cm, lưỡi dao dài 25 cm, bản dao rộng 4,5cm, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

    Việc xử lý vật chứng như trên là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Triệu Thị T1 phạm tội “Hủy hoại rừng”
  2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243, Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
  3. Xử phạt bị cáo Triệu Thị T1 12 ( mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm ( Ngày 06/6/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện P, tỉnh Bắc Kạn giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Buộc bị cáo Triệu Thị T1 phải bồi thường cho nguyên đơn dân sự là Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn với số tiền 17.491.820đ ( Mười bảy triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm hai mươi đồng).

    Tạm giữ số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001954, ngày 01/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo thi hành án.

    Việc thi hành án được thực hiện theo Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015

    “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

    Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015”

  5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
    • - Tịch thu, hóa giá sung công quỹ nhà nước các vật chứng gồm:

      Tổng 06 cây gỗ bị chặt hạ các loại từ nhóm VI đến nhóm VIII tổng khối lượng 0,546m³; 1.307 cây vầu bị chặt hạ (cây nhỏ nhất có chu vi 12 cm, dài 4,1 m; cây to có chu vi 31 cm, dài 12 m).

      (Số lượng, khối lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn và Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn).

    • - Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại dài 53 cm, trong đó cán dao dài 28 cm, lưỡi dao dài 25 cm, bản dao rộng 4,5cm đã qua sử dụng.

      (Số lượng và tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/5/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm.)

  6. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự."

  7. Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Pác Nặm. (01b)
  • - TAND tỉnh Bắc Kạn. (01b)
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn. (01b)
  • - Bộ phận hồ sơ CA huyện Pác Nặm. (03b)
  • - Chi cục THADS huyện Pác Nặm. (01b)
  • - Sở Tư pháp. (01b)
  • - Bị cáo. (01b)
  • - Nguyên đơn dân sự. (01b)
  • - Người đại diện của nguyên đơn dân sự (01b)
  • - Người bào chữa. (01b)
  • - UBND xã Công Bằng, Giáo Hiệu ( khi có hiệu lực)
  • - Lưu hs;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tiến Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS - ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN về hình sự về tội "hủy hoại rừng"

  • Số bản án: 13/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Hủy hoại rừng"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Thị T hủy hoại rừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger