TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST
Ngày 05-9-2024
"V/v ly hôn, nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA - TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Siu Lanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Nhàn.
- Ông Nguyễn Đức Thại.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nay Ha -Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXX-ST, ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Ksor H, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Bôn H, xã I, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Bị đơn: Anh Nay T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Bôn H, xã I, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Chị Ksor H có mặt; anh Nay T vắng mặt không có lý do chính đáng, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 14/5/2024, bản khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Ksor H trình bày:
Chị Ksor H và anh Nay T tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tự nguyện vào ngày 25/3/2013 tại UBND xã I, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Cuộc sống hôn nhân thời gian đầu chung sống bình thường, có hạnh phúc. Thời gian về sau thì vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và to tiếng qua lại. Anh T thường xuyên uống rượu rồi về nhà quậy phá, đánh đập vợ con và không chịu đi làm, không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn 02 bên đã được gia đình động viên, hòa giải để quay về với nhau nhưng anh T vẫn không hề thay đổi. Giữa hai bên đã được giải quyết thủ tục ly hôn theo phong tục người Jarai. Từ đó, anh T về nhà bố mẹ ở, còn chị và các con ở nhà bố mẹ chị, hai vợ chồng ly thân từ 2023 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, không còn ai quan tâm nhau nữa, không thể tiếp tục chung sống với nhau. Nay chị vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, để cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung: 03 con chung Ksor S, sinh ngày 31/7/2011, Ksor H1, sinh ngày 12/09/2013 và Ksor H2, sinh ngày 31/01/2016 . Hiện 03 cháu đang sống cùng với chị. Nguyện vọng của các con cũng muốn tiếp tục ở với mẹ nên đề nghị cho chị được tiếp tục nuôi 03 con và không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Nay T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn Nay T vẫn cố tình trốn tránh không tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, không hợp tác, không đến Tòa án làm việc, không cung cấp bản tự khai trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu phản tố, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Nên Tòa án tiến hành các thủ tục tống đạt để giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, bị đơn Nay T vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ksor H đã chấp hành và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn anh Nay T không chấp hành và không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình như không đến Tòa án tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy mâu thuẫn giữa chị Ksor H và anh Nay T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX tuyên xử cho chị Ksor H và anh Nay T ly hôn.
Về con chung: Đề nghị HĐXX giao 03 con chung Ksor S, sinh ngày 31/7/2011, Ksor H1, sinh ngày 12/09/2013 và Ksor H2, sinh ngày 31/01/2016 cho chị Ksor H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ksor H không có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
+ Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Ksor H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
- Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn chị Ksor H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với Nay T; bị đơn Nay Tlôh hiện đang cư trú tại: Bôn H, xã I, thị xã A, tỉnh Gia Lai, nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn:
Bị đơn anh Nay T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Cho nên, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về phạm vi giải quyết vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nay T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, biết được các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuy nhiên anh Nay T không hợp tác, không có yêu cầu phản tố; không tham gia phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án để giải quyết
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ksor H và anh Nay T tự do tìm hiểu và tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tự nguyện vào ngày 25/3/2013 tại UBND xã I, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy tại khoản 1, khoản 5 Điều 3 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình thì “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định, Tòa án chỉ giải quyết cho ly hôn nếu “...có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
HĐXX nhận thấy, quá trình sống chung giữa chị Ksor H và anh Nay T đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn làm cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân là do anh Nay T thường xuyên uống rượu, đánh đập chị H, không chia sẻ trách nhiệm trong gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để động viên, khuyên bảo vợ chồng bỏ qua mâu thuẫn về đoàn tụ gia đình nhưng không thành, bởi vì anh Nay T không hợp tác, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, điều đó chứng tỏ anh T không có thiện chí muốn về đoàn tụ gia đình với chị H. Chị H nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không hạnh phúc và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa, nên vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Xét thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng anh Ksor H và anh Nay T là có thật và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết, chị H kiên quyết yêu cầu ly hôn, cho nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình: xử cho chị Ksor H được ly hôn với anh Nay T là có căn cứ .
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Ksor S, sinh ngày 31/7/2011, Ksor H1, sinh ngày 12/09/2013 và Ksor H2, sinh ngày 31/01/2016, nguyện vọng của các cháu đều muốn ở với mẹ, chị H có nguyện vọng nuôi cả ba cháu, không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Nên HĐXX tiếp tục giao cho chị Ksor H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục ba con chung là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh T cấp duỡng nuôi con. Nên HĐXX không đề cập xem xét.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Ksor H phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, nên HĐXX chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 96, khoản 4 Điều 147; Điều 235; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 19, Điều 21, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ksor H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ksor H được ly hôn với anh Nay T.
- Về con chung: Tiếp tục giao ba cháu cho chị Ksor H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục: Ksor S, sinh ngày 31/7/2011, Ksor H1, sinh ngày 12/09/2013 và Ksor H2, sinh ngày 31/01/2016.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nay T không phải cấp dưỡng nuôi con, vì chị Ksor H không yêu cầu.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nay T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
4. Về tài sản chung, nợ chung: chị Ksor H và anh Nay T không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
5. Về án phí: Chị Ksor H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Ksor H đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0011976, ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Ksor H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn anh Nay T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Siu Lanh |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA - TỈNH GIA LAI về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ksor H và anh Nay T tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tự nguyện vào ngày 25/3/2013 tại UBND xã I, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Cuộc sống hôn nhân thời gian đầu chung sống bình thường, có hạnh phúc. Thời gian về sau thì vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và to tiếng qua lại. Anh T thường xuyên uống rượu rồi về nhà quậy phá, đánh đập vợ con và không chịu đi làm, không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn 02 bên đã được gia đình động viên, hòa giải để quay về với nhau nhưng anh T vẫn không hề thay đổi. Giữa hai bên đã được giải quyết thủ tục ly hôn theo phong tục người Jarai. Từ đó, anh T về nhà bố mẹ ở, còn chị và các con ở nhà bố mẹ chị, hai vợ chồng ly thân từ 2023 đến nay
