TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05 – 7 – 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Quý
- Bà Lê Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuý Hoa – Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Dương Xuân Chính- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2024TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
• Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thanh T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
• Bị đơn: Ông Võ Đoàn Minh P, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với ông Võ Đoàn Minh P1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102 ngày 19/10/2020 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp. Trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến hay cãi nhau,
Tôi và ông Võ Đoàn Minh P1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 102 ngày 19/10/2020 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp. Thời gian đầu mới kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Năm 2021, tôi và ông P1 có con chung là Võ Hồ Minh Đ, sinh ngày 20/01/2021. Sau đó vợ chồng thường xảy ra bất hoà, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng do ông P1 thường uống rượu, đánh bài không lo làm kinh tế cho gia đình, không quan tâm đến gia đình vợ và con. Đến năm 2022 ông P1 bỏ nhà đi đâu không nói với tôi và rất ít liên lạc về hỏi thăm quan tâm con và không hỏi han gì đến tôi.
Do mối quan hệ vợ chồng giữa tôi với ông Võ Đoàn Minh P1 hiện nay đã mâu thuẫn trầm trọng, không đạt được mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc, không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng được nữa cũng như ông P1 không quan tâm chăm lo cho gia đình. Vì vậy tôi nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Võ Đoàn Minh P1, sinh năm 1990. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, giữa tôi với ông P1 có 01 người con chung là cháu Võ Hồ Minh Đ, sinh ngày 20/01/2021. Do từ năm 2022 đến nay, ông P1 bỏ đi đâu không rõ, không về nhà, tôi không biết địa chỉ liên hệ của ông P1 và từ khi ông P1 bỏ nhà đi năm 2022 thì con chung Võ Đoàn Minh Đ1 vẫn do một mình tôi trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tôi nhận thấy tự tôi bảo đảm kinh tế để nuôi con. Vì vậy, khi Toà án giải quyết ly hôn với ông P1, tôi yêu cầu cho tôi được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Võ Hồ Minh Đ, sinh ngày 20/01/2021 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn ông Võ Đoàn Minh P1:
Trong quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án, ông P1 đều vắng mặt và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã tiến hành xác minh nơi cư trú tại địa phương của ông Võ Đoàn Minh P1, được biết ông P1 có đăng ký cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước nhưng tại thời điểm xác minh ông P1 đã bỏ đi khỏi địa phương, đi đâu làm gì địa phương không có thông tin do ông P1 không thông báo với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Về thụ lý, phân công thẩm phán; xác định tư cách tham gia tố tụng; xác minh thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; thủ tục công khai, tiếp cận chứng cứ và hòa giải đã thực hiện đúng theo quy định tại các điều 28, 35, 39, 68, 93, 97, 195, 196, 197, 205, 208, 209 của BLTTDS.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thực hiện đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T, cho bà T được ly hôn với ông Võ Đoàn Minh P1. Giao cháu Võ Hồ Minh Đ, sinh ngày 20/01/2021 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:
Xét thấy, đây là vụ kiện hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, do nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T thực hiện quyền khởi kiện; bị đơn ông Võ Đoàn Minh P1 có địa chỉ cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
[2]. Về thủ tục xét xử vắng mặt:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Võ Đoàn Minh P1 đã được Toà án thực hiện việc tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập tiến hành xét xử vắng mặt ông P1.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về nội dung tranh chấp:
3.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông P1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102 ngày 19/10/2020 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Sau khi kết hôn bà T và ông P1 chung sống hòa thuận hạnh phúc một thời gian, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xảy ra bất hoà, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng do ông P1 thường uống rượu, đánh bài không lo làm kinh tế cho gia đình, không quan tâm đến gia đình vợ và con. Đến năm 2022 ông P1 bỏ nhà đi đâu không nói với bà T cũng như rất ít liên lạc về hỏi thăm quan tâm đến gia đình, vợ và con. Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ căn cứ khẳng định bà T và ông P1 đã không còn chung sống với nhau một thời gian dài, giữa hai vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông P1 đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục được, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử cho bà T được ly hôn ông P1 là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2. Về con chung: Quá trình chung sống, giữa bà T và ông P1 có 01 người con chung là cháu Võ Hồ Minh Đ, sinh ngày 20/01/2021. Bà T có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.
Xét thấy, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất và tinh thần. Thực tế từ năm 2022 ông P1 đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ địa chỉ, con chung cháu Võ Hồ Minh Đ đã được bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ nhỏ cho đến nay. Vì vậy, cần giao cháu Đ cho bà T được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Yêu cầu của bà T là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
3.3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Quan điểm đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227Điều 228; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; các điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Hồ Thị Thanh T được ly hôn với ông Võ Đoàn Minh P1.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Hồ Thị Thanh T và ông Võ Đoàn Minh P1 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật
- Về con chung: Giao người con chung Võ Hồ Minh Đ, sinh ngày 20/01/2021 cho bà Hồ Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi;
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết do các đương sự không có yêu cầu
- Về án phí:
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà T phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008059 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
2. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tuyết |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
