TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/DS - PT Ngày 05 – 01 – 2024 Về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Phận |
| Các Thẩm phán: | Ông Lê Minh Đạt |
| Bà Nguyễn Thị Rẻn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 414/2023/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” do Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4327/2023/QĐXXPT-DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1944; có mặt.
Địa chỉ: Số B ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm: 1961; có mặt.
Địa chỉ: Số B ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Người kháng cáo: Bà Bùi Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hoà giải, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:
Vào ngày 22/8/2022 (âm lịch), ông có cho bà Bùi Thị T mượn số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn trả là 22/11/2022, không có tính lãi, hai bên có lập Giấy mượn tiền ghi ngày 22/8/2022 và bà T có ký tên vào Giấy mượn tiền này.
Đến thời hạn trả tiền nhưng bà T vẫn không trả, ông có nhiều lần gặp bà T để yêu cầu bà T trả lại số tiền 10.000.000 đồng nhưng bà T không thừa nhận việc có mượn số tiền này.
Tháng 12 năm 2022, ông có nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre để yêu cầu bà T trả số tiền trên nhưng bà T vẫn không thừa nhận có nợ và không thừa nhận chữ ký trong Giấy mượn tiền. Bà T có nộp đơn yêu cầu giám định chữ ký. Tại Kết luận giám định số 121/2023/KL-KTHS ngày 15/3/2023 kết luận chữ ký trên Giấy mượn tiền ngày 22/8/2022 so với các mẫu so sánh là cùng một người ký. Tuy nhiên, tại thời điểm đó ông hiểu nhầm kết luận giám định nên đã rút đơn khởi kiện và Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T phải trả cho ông số tiền 10.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Bùi Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.
Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre đưa vụ án ra xét xử với quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 227, 228, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L. Buộc bà Bùi Thị T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
Kể từ khi bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, số tiền trên nếu chậm thi hành sẽ được tính lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 13 tháng 9 năm 2023, bị đơn bà Bùi Thị T kháng cáo.
Theo đơn kháng cáo của bà Bùi Thị T và tại phiên tòa phúc thẩm bà T giữ nguyên nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Lý do kháng cáo là do bà không có mượn tiền của ông Nguyễn Văn L. Bà yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của ông L về việc buộc bà phải trả cho ông L số tiền 10.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L không đồng ý nội dung kháng cáo của bị đơn, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng. Xét kháng cáo của bà Bùi Thị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Bùi Thị T kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Theo đơn kháng cáo của bà Bùi Thị T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không đồng ý nội dung kháng cáo của bị đơn, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Thị T: Thấy rằng ông L khởi kiện bà T yêu cầu bà T trả số tiền nợ gốc 10.000.000 đồng. Căn cứ khởi kiện của ông L là giấy mượn tiền ngày 22/8/2022 (âm lịch) có chữ ký của bà T trên mục “Người mượn tiền”. Bà T cho rằng bà không ký tên vào giấy nợ này và tại phiên tòa phúc thẩm bà cho rằng bà ký nhầm, bà có nói ông L hủy giấy này nhưng ông L không hủy. Tuy nhiên, tại Kết luận giám định số 121/2023/KL-KTHS ngày 15/3/2023 kết luận chữ ký “Tím” trên mục “người mượn” của Giấy mượn tiền ngày 22/8/2022 so với mẫu so sánh là cùng một người ký. Mặc dù sau đó ông L đã rút đơn khởi kiện và Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án nhưng Kết luận giám định số 121/2023/KL-KTHS ngày 15/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B cũng được xem là chứng cứ theo quy định tại Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Từ những phân tích trên, thấy rằng có đủ căn cứ xác định bà Bùi Thị T có vay tiền của bà Nguyễn Văn L và có ký tên vào Giấy mượn tiền ngày 22/8/2022. Ông L đã nhiều lần liên hệ bà T để yêu cầu bà trả tiền. Tuy nhiên, hết
thời hạn theo thỏa thuận trong Giấy mượn tiền nêu trên nhưng bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là đã vi phạm sự thỏa thuận giữa các bên theo quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ trả nợ của bên vay phải trả đủ tiền khi đến hạn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L đối với phần nợ gốc là có căn cứ. Bà T kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ có giá trị chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Bùi Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch nhưng bà T thuộc diện người cao tuổi nên được miễn, cần điều chỉnh lại phần án phí dân sự sơ thẩm cho đúng với quy định pháp luật.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Bùi Thị T phải chịu án phí, tuy nhiên bà T thuộc diện người cao tuổi nên được miễn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thị T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, điều chỉnh về án phí dân sự sơ thẩm.
Áp dụng các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L. Buộc bà Bùi Thị T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn L số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị T thuộc diện người cao tuổi nên được miễn.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Bùi Thị T thuộc diện người cao tuổi nên được miễn.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Phận |
Bản án số 13/2024/DS - PT ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 13/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
