TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/ HS-ST Ngày: 02/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Duy Quyết.
- Ông Hoàng Quốc Trị.
-Thư ký phiên toà: bà Bùi Hồng Mơ - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình; Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST – HS ngày 26 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/TLST – HS ngày 17 tháng4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1984; xã G, huyện G; Nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu X và bà Phạm Thị H; Vợ Trần Thị D, có 03 con; Tiền sự: không.
Tiền án: Tại Bản án số 41 ngày 15/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, xử phạt Nguyễn Văn T 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạm Thái S chấp hành xong bản án ngày 02/7/2022.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 25/01/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt)
- Những người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng: anh Vũ Hồng C, anh Nguyễn Anh T1. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2012 đến nay. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T bắt xe ôm của người không quen biết đi từ thôn H, xã G đến khu vực cầu Đ thuộc huyện N thì
xuống xe. T bảo người lái xe ôm đứng đợi còn T tiếp tục đi bộ khoảng 500m về hướng đường đê xã G, huyện N. T gặp hỏi và mua của một nam thanh niên không quen biết đang đứng một mình, đưa cho nam thanh niên 200.000 đồng; người này cầm tiền và đưa lại T 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2,5)cm, miệng túi có đường viền màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng. Xác định là ma túy, loại H1, T bỏ vào túi quần đang mặc rồi đi bộ quay lại chỗ người lái xe ôm đang đứng đợi, bảo người lái xe ôm đi về. Đến khu vực thôn E, xã G, T xuống xe, trả 100.000 đồng tiền xe ôm, rồi đi bộ để tìm nơi sử dụng ma túy. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ tại khu vực trục đường thôn E, xã G, huyện G, thì gặp Tổ công tác Công an xã G làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, T tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 túi ma túy và khai nhận đó là H1, T mua về nhằm mục đích sử dụng. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong 01 túi ma túy có đặc điểm nêu trên của T. Ngoài ra, không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Sau đó, Tổ công tác đưa Nguyễn Văn T cùng vật chứng về trụ sở UBND xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 01 túi thu giữ của Nguyễn Văn T có khối lượng là 0,195 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 177/KL-KTHS-MT ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:
Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1908 gam, là ma túy, loại Heroine (H).
Heroine (H2) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
H3 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,1371 gam, là ma túy, loại Heroine (H); toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại, ý kiến gì về kết luận giám định nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 15/CT-VKS-GV ngày 25/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Nguyễn Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 21 đến 25 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 177/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1371 gam, là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x2,5)cm, miệng túi có đường viền màu đỏ, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản vụ việc, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ, phù hợp Kết luận giám định số 177/KL-KTHS-MT ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, tại khu vực trục đường T, xã G, huyện G, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1908 gam Heroine với mục đích sử dụng, bị bắt quả tang..
Bộ luật Hình sự quy định:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm :
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi cất giấu trái phép Heroine của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật
Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã đi mua ma túy cất giấu để thỏa mãn nhu cầu bản thân. Chính vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn T đang có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu
Căn cứ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, không có thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì ghi số 177/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1371 gam, là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x2,5)cm, miệng túi có đường viền màu đỏ, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy, bị cáo khai mua của một người thanh niên không quen biết; người đàn ông chở xe ôm bị cáo không quen biết; nên không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7]. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên tòa về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cần áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quan điểm xử lý của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự ;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 23 (hai mươi ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/01/2024.
- Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 177/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1371 gam, là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x2,5)cm, miệng túi có đường viền màu đỏ, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
- (Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn ngày 01/4/2024).
- Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 02/5/2024.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lã Hoàng Giáp |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T- TTTPCMT
