Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH SƠN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST

Ngày 02/5/2024

V/v ly hôn, tranh chấp

về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đô.

Các hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Phạm Thị Lan.
  2. Ông Bùi Tấn Ba.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ánh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 87/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ V, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
  2. Bị đơn: Anh Trương L, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị Mỹ V (sau đây viết tắt là chị V) trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trương L (sau đây viết tắt là anh L) tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01/2015, ngày 28/7/2015. Quá trình chung sống, giữa chị và anh L phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh L thường xuyên đánh bạc, thiếu nợ nhiều người nên phải bán tài sản của gia đình để trả nợ, mặc dù chị nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh L không thay đổi; vợ chồng chị không còn chung sống, không quan tâm chăm sóc cho nhau và không khả năng đoàn tụ chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

Về con chung: Giữa chị và anh L có 03 (ba) con chung là các cháu Trương Bảo N, sinh ngày 15/11/2016, Trương Gia H, sinh ngày 18/5/2018, và Trương Khải A, sinh ngày 22/12/2021 (sau đây viết tắt là các cháu N, H và A). Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A và giao các cháu N, H cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Trương Lâm k trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ V.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

  • Việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 21, 28, 35, 39, 144 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V, cho chị V được ly hôn anh L; giao cháu A cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu N, cháu H cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết; chị V và anh L không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên không giải quyết; chị V chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn là chị V vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn là anh L vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[1.2] Anh L không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên căn cứ vào Điều 91 và Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số số 46, quyển số 01/2015 ngày 28/7/2015 của UBND xã B, kết quả xác minh tình trạng hôn nhân và trình bày của chị V, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định chị V và anh L xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa chị V và anh L là hợp pháp.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, anh L không có ý kiến trình bày hay phản đối các tình tiết, sự kiện mà chị V trình bày về nguyên nhân và quá trình phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng như các vấn đề khác như đã nêu trên. Căn cứ quy định tại Điều 91 và Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì các tình tiết, sự kiện mà chị V đưa ra không phải chứng minh. Ngoài ra, anh L không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa thể hiện anh L không quan tâm, không có thiện chí hòa giải mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa chị V và anh L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V.

[2.3] Theo trình bày của chị V và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định chị V và anh L có 03 (ba) con chung là các cháu N, H và A. Xét thấy, cháu A hiện nay còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn, trong khi đó chị V có đủ điều kiện, khả năng nuôi con và có yêu cầu được nuôi dưỡng cháu A; các cháu N, H đang được anh L chăm sóc đảm bảo và cháu N cũng có nguyện vọng sinh sống cùng anh L. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu A cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao các cháu N, H cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

[2.4] Chị V và anh L không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

[2.5] Chị V và anh L không yêu cầu giải quyết chia tài sản chung và chị C trình bày không có nợ chung nên căn cứ quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết chia tài sản chung và nợ chung trong vụ án này.

[2.6] Chị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại các Điều 147, 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[3] Ý kiến của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 264, 266, 267, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chị Trần Thị Mỹ V được ly hôn anh Trương Lâm .
  2. Giao cháu Trương Khải A, sinh ngày 22/12/2021 cho chị Trần Thị Mỹ V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao các cháu Trương Bảo N, sinh ngày 15/11/2016 và Trương Gia H, sinh ngày 18/5/2018 cho anh Trương L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị Trần Thị Mỹ V và anh Trương L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  1. Chị Trần Thị Mỹ V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền chị Trần Thị Mỹ V đã nộp tạm ứng theo giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 29/11/2023 thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001963 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND huyện Bình Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Sơn;
  • - UBND xã Bình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đô

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger