|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/LĐ-PT Ngày: 14/4/2025 V/v: Hợp đồng lao động. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: | Ông Tống Quốc Thanh |
| Các Thẩm phán : | Ông Trần Anh Tuấn |
| Ông Bùi Đức Bằng |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Ông Trần Chí Thành - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 - 14/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dânthành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số 07/2025/TLPT-LĐ ngày 14/02/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”.Do Bản án lao động sơ thẩm số 13/2024/LĐ-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2025/QĐ-PT ngày 24/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974Địa chỉ: Khu tập thể H, T, xã C, huyện G, Hà Nội.
Đại diện ủy quyền: Bà Đào Thị H1, bà Nguyễn Thị T.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Trần Quốc H2, luật sư Hoàng Y, luật sư Nguyễn Ngọc M - Văn phòng luật sư Trần Quốc H2 - Đoàn luật sư thành phố H.
(Có mặt: Bà H, bà H1; luật sư Y, luật sư M)
- Bị đơn: Công ty Cổ phần T4
Trụ sở: Số A phố Đ, quận B, Hà Nội (trước ở địa chỉ: Số B H, phường H, quận H, Hà Nội).
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H3 – Chủ tịch HĐQT.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, ông Phan Lê H4, bà Đỗ Thị Đỗ Q, bà Nguyễn Bích H5, bà Phan Thị Ngọc T2 (theo giấy ủy quyền ngày 03/3/2025).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Duy N, luật sư Nguyễn Thị Bích H6 - Văn phòng L1 - Đoàn luật sư thành phố H.
(Có mặt: Bà T1, ông H4, bà Q, bà H5, luật sư N, luật sư H6).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình Toà án giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà Nguyễn Thị H là người lao động làm việc tại Nhà máy D thuộc Công ty cổ phần T4 (Trước đây là Công ty TNHH MTV T4) (“Công ty T4”) từ ngày 15/01/2012 đến nay với vị trí quản đốc phân xưởng may. Trước đó, bà làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn tại chi nhánh khác của Công ty T4 là Công ty L2 với vị trí chuyền trưởng chuyền may 6. Ngày 15/01/2012, bà được điều chuyển về làm việc tại Công ty T4 với vị trí Quản đốc phân xưởng may Nhà máy D1 theo Quyết định số 06/QĐ-NMDK về việc tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ quản lý. Theo đó, Công ty T4 đã ban hành các quyết định lương riêng cho cán bộ, công nhân viên của Nhà máy trong đó có bà. Gần đây nhất là theo Quyết định số 40/QĐ-NMDK của Nhà máy D1 – Công ty TNHH MTV T4 về việc điều chỉnh lương khoán đối với cán bộ chủ chốt, mức lương của bà là 10.000.000 đồng/tháng và được tính từ tháng 5/2016.
Ngày 01/9/2016, UBND thành phố H đã ban hành Quyết định số 4798/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tái cơ cấu chuyển đổi công ty TNHH một thành viên T4 thành Công ty cổ phần. Nội dung Quyết định số 4798 thể hiện như sau:
- Công ty TNHH MTV T4 có trách nhiệm bố trí nguồn thanh toán đối với khoản nợ lương, bảo hiểm xã hội và các khoản đóng góp khác cho người lao động theo chế độ quy định đến thời điểm chuyển sang Công ty cổ phần. Nếu Công ty TNHH MTV T4 chưa thanh toán, bàn giao thì Công ty T4 có trách nhiệm kế thừa để thực hiện chi trả lương, đóng bảo hiểm xã hội và các khoản đóng góp khác cho người lao động theo quy định.
- Về phương án sử dụng người lao động: số lao động có nhu cầu dự kiến chuyển sang làm việc tại Công ty cổ phần T4 109 người, số lao động chấm dứt hợp đồng lao động, không bố trí được việc làm tại thời điểm công bố giá trị doanh nghiệp là 30 người.
Bà thuộc nhóm công nhân viên được nhà máy giữ lại sau khi Công ty T4 chuyển đổi sang Công ty cổ phần.
Ngày 10/10/2016, Công ty T4 có Thông báo số 28/TB-NM về việc tạm nghỉ việc do chưa có hợp đồng về may. Theo nội dung Thông báo số 28, kể từ ngày 11/10/2016, toàn bộ phân xưởng may tạm nghỉ chờ việc cho đến khi có hợp đồng mới, tiền lương, các chế độ đi kèm vẫn được hưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Ngày 01/11/2016, Giám đốc Nhà máy D1 tổ chức buổi đối thoại với công nhân lao động phân xưởng. Tại buổi đối thoại, ông Nguyễn Cự T3 – Giám đốc nhà máy trả lời người lao động rằng: Do nhà máy chưa có đơn hàng nên lao động vẫn phải nghỉ chờ việc. Ông T3 cam kết sẽ tìm kiếm đơn hàng và thông báo lại cho người lao động trở lại làm việc sớm nhất. Vì hiện chưa có tiền nên nhà máy cam kết sẽ thanh toán lương cho người lao động đến ngày 5/11/2016. Tuy nhiên, sau buổi họp đối thoại, Công ty T4 vẫn không thực hiện trả lương theo cam kết, cũng không thông báo cho người lao động trở lại làm việc.
Từ tháng 10/2017 đến tháng 01/2018, Công ty T4 mời lần lượt từng người đến Công ty để rà soát, lên phương án sử dụng và giải quyết chế độ cho người lao động, trong số đó có bà. Theo đó, tại buổi làm việc với lãnh đạo Công ty T4 vào ngày 7/10/2017, bà vẫn đề nghị được tiếp tục làm việc và yêu cầu Công ty T4 thanh toán toàn bộ tiền lương và các chế độ cho bà theo quy định. Tuy nhiên, Công ty T4 vẫn không thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào như đã cam kết với người lao động.
Sau nhiều lần yêu cầu Công ty T4 giải quyết việc làm và chế độ tiền lương, thì ngày 9/3/2023, Công ty T4 mới tổ chức cuộc đối thoại giữa Ban lãnh đạo Công ty với tập thể người lao động, có sự tham gia của đại diện Công đoàn dệt may Hà Nội. Tại biên bản cuộc họp, ông Trần Trọng P (ủy viên Hội đồng quản trị Công ty T4) cho biết: Công ty đã bán máy móc của nhà máy D1 đi lấy tiền chi trả bảo hiểm cho công nhân nhưng cũng không chi trả tiền cho bà. Công ty còn cam kết sẽ giải quyết chế độ BHXH trong quý 3/2023 và trả lương của cán bộ công nhân viên trong năm 2023 nhưng cũng không thực hiện. (Theo ông P cam kết thì chỉ thu xếp 1,678 tỷ đồng trả lương hết quý 3/2023, còn hợp đồng lao động thì chưa có khả năng giải quyết được). Sau cuộc họp và khi tìm hiểu tại cơ quan Bảo hiểm xã hội quận H và Bảo hiểm xã hội quận G thì bà và các lao động khác mới được biết Công ty T4 đã tự ý đóng, chốt sổ Bảo hiểm xã hội của bà và của các lao động khác vào tháng 7/2017 mà không thông báo cho người lao động biết. Vì vậy, ngày 21/8/2023, bà và tập thể người lao động đã làm đơn đề nghị hoà giải lao động gửi đến Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội Quận H để giải quyết việc nợ lương.
Từ khi có thông báo tạm nghỉ việc đến nay, bà vẫn đang chờ Công ty T4 thông báo đi làm trở lại nên vẫn chưa làm việc hay tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ở nơi nào khác.
Về yêu cầu đòi tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội và các chế độ khác:
Sau khi Công ty T4 có Thông báo số 28 từ ngày 10/10/2016 cho bà và các lao động khác tạm thời nghỉ chờ việc. Đến nay, Công ty T4 mới chỉ thanh toán cho bà 50% tiền lương trước giai đoạn cổ phần hóa, thực hiện nghĩa vụ đóng Bảo hiểm xã hội cho bà đến hết tháng 7/2017 còn lại vẫn chưa thanh toán các khoản tiền lương, BHXH và tiền trợ cấp như đã cam kết với người lao động trong các buổi làm việc, đối thoại giữa người lao động và ban lãnh đạo công ty T4.
Theo đó, tiền nợ lương sau cổ phần bà yêu cầu được tính dựa trên mức lương thực tế được hưởng là 10.000.000 đồng/tháng (theo Quyết định số 40/QĐ-NMDK của Công ty T4 về việc điều chỉnh lương khoán đối với cán bộ chủ chốt) nhân với số tháng nghỉ chờ việc. Theo sổ bảo hiểm xã hội của bà thì công ty T4 đã đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được tính dựa trên 21.5% mức lương tối thiểu vùng, nên bà chỉ yêu cầu Công ty T4 phải thanh toán các khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp còn nợ đến nay theo mức lương tối thiểu vùng là 4.012.500 đồng/tháng trong năm 2017; 4.258.600 đồng/tháng trong năm 2018; 4.472.600 đồng/tháng trong năm 2019; 4.729.400 đồng/tháng trong năm 2020, 2021, 2022, 2023.
Để đảm bảo quyền lợi của mình, bà H đã đề nghị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm:
- Yêu cầu Công ty T4 thanh toán tiền lương trong thời gian không được làm việc từ tháng 10/2016; tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 8/2017 đến khi hoàn tất việc thanh toán. Tổng số tiền tạm tính đến tháng 9/2024 là: 970.927.771 đồng, bao gồm:
- - Tiền nợ lương trước thời điểm chuyển đổi cổ phần là: 26.011.263 đồng
- - Tiền nợ lương sau khi chuyển đổi cổ phần là: 860.000.000 đồng
- - Tiền đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là: 84.916.508 đồng
- Yêu cầu Công ty T4 tiếp tục bố trí việc làm theo Hợp đồng lao động không xác định thời hạn đã ký. Trường hợp Công ty T4 không thể tiếp tục bố trí việc làm theo hợp đồng lao động, thì buộc Công ty T4 phải bồi thường ít nhất 04 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
2. Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn Công ty cổ phần T4 trình bày:
Công ty cổ phần T4, tiền thân là Công ty TNHH MTV T4 là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, hoạt động trong lĩnh vực dệt may. Từ năm 2011, do kinh doanh thua lỗ, tài chính khó khăn, Công ty TNHH MTV T4 đã nợ lương, nợ bảo hiểm, nợ nhà cung cấp, nợ ngân hàng... không có khả năng thanh toán, lỗ lũy kế kéo dài dẫn đến âm vốn chủ sở hữu. Ông Nguyễn Cự T3, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc bị bắt tạm giam theo Thông báo số 20 ngày 07/07/2017 của Cơ quan An ninh Điều tra – Công an T5. Bên cạnh đó, bà P1 – Trưởng phòng Tài chính Kế toán đã xin thôi việc và chưa thực hiện hết trách nhiệm bàn giao công việc cho Kế toán mới. Ngày 01/08/2017, Công ty TNHH MTV T4 chính thức hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần, đổi tên thành Công ty cổ phần T4, do DATC đại diện phần vốn góp 99.79%. Tuy nhiên, trong quá trình quản lý và điều hành, DATC đã không thực hiện chi trả các khoản nợ thuế, nợ ngân sách, nợ lương và bảo hiểm của người lao động, nợ tiền nhà và đất, nợ các nhà cung cấp... dù có chỉ đạo của U. Đến tháng 6/2022, DATC chuyển nhượng toàn bộ cổ phần tại Công ty cổ phần T4 cho bà Nguyễn Thị H3.
Về yêu thanh toán tiền nợ lương trước thời điểm chuyển đổi cổ phần của nguyên đơn:
Công ty cổ phần T4 không có trách nhiệm thực hiện bởi theo nội dung văn bản số 7027/STC-BCĐ ngày 10/10/2018 của Ban chỉ đạo Cổ phần hóa thuộc Sở Tài chính thành phố H về việc bàn giao Công ty TNHH MTV T4 sang Công ty cổ phần T4, khoản nợ lương của người lao động trước ngày 01/08/2017 thuộc trách nhiệm của DATC và theo quy định tại khoản 8, Điều 4 “Chính sách đối với người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa”, Thông tư 33/2012/TT-BLĐTBXH ngày 20/12/2012 của Bộ L3 hướng dẫn thực hiện chính sách đối với NLĐ theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ quy định:
"8. ...
Doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm lập danh sách và làm thủ tục để cơ quan Bảo hiểm xã hội tiếp tục thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp theo quy định; thanh toán đầy đủ các khoản nợ về bảo hiểm xã hội đối với cơ quan Bảo hiểm xã hội và các khoản nợ với người lao động (nếu có) trước khi chuyển sang công ty cổ phần; bàn giao danh sách và hồ sơ của người lao động cho Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc công ty cổ phầT4 để tiếp tục tham gia và giải quyết quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ khác theo quy định."
Theo quy định tại điểm e, khoản 4, Điều 9 “Xử lý về tài chính khi xác định giá trị doanh nghiệp”, Thông tư số 127/2014/TT-BTC ngày 05/9/2014 của Bộ T6 về việc hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty CT4 quy định:
“e) Đối với khoản nợ bảo hiểm xã hội, nợ cán bộ công nhân viên, doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán dứt điểm trước khi chuyển thành công ty cổ phần để đảm bảo quyền lợi cho người lao động...”.
Về yêu cầu khởi kiện đòi tiền nợ lương sau khi chuyển đổi cổ phần:
Trước khi bàn giao doanh nghiệp từ Công ty TNHH MTV T4 sang Công ty cổ phần T4, Ban chỉ đạo cổ phần hóa/ tái cơ cấu Công ty TNHH MTV T4 và Công ty TNHH MTV T4 chỉ giữ lại 16 lao động của Nhà máy Dệt kim như đã đăng ký với BHXH quận H, trong đó không có bà H là nguyên đơn của vụ án này. Theo khoản 1 Điều 10, Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành Công ty cổ phần quy định về nguyên tắc kế thừa quyền và nghĩa vụ của công ty cổ phần T4 chuyển đổi từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, Công ty cổ phần chỉ có trách nhiệm đối với người lao động từ doanh nghiệp cổ phần hóa chuyển sang, do nguyên đơn không nằm trong danh sách người lao động được chuyển sang sau khi cổ phần hóa nên bị đơn không có trách nhiệm chi trả tiền lương sau cổ phần hóa cho nguyên đơn.
Về yêu cầu thanh toán bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp:
Dù tình hình tài chính khó khăn nhưng Công ty vẫn cố gắng tiếp tục đóng 100% bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động đến hết 31/07/2017. Dựa trên nội dung Biên bản làm việc ngày 25/11/2022 về việc “Hỗ trợ người lao động đã nghỉ việc ngay sau khi Công ty Cổ phần hóa” thì hai bên đã thống nhất chấm dứt Hợp đồng lao động kể từ ngày 31/7/2017.
Bên cạnh đó, bị đơn cho rằng trong đơn khởi kiện, người khởi kiện cho rằng Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ từ tháng 10/2016. Tuy nhiên, cho đến nay (sau hơn 7 năm) người khởi kiện mới đưa đơn khởi kiện đến Tòa án quận H. Căn cứ Điều 190 Bộ luật lao động 2019 và Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bị đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu để giải quyết vụ án.
Ngoài ra, Bị đơn đề nghị tòa án đưa Công ty TNHH M1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để giải quyết vụ án một cách công bằng, khách quan, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho tất cả các bên.
Từ những phân tích trên, bị đơn đề nghị Tòa án bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án Lao động mại sơ thẩm số 13/2024/LĐ-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với Công ty cổ phần T4 về tranh chấp: Đòi tiền lương, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm thất nghiệp.
- Buộc Công ty cổ phần T4 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H các khoản tiền sau:
- - Tiền nợ lương trước thời điểm chuyển đổi cổ phần từ tháng 11/2016 đến hết tháng 7/2017: 33.250.000 đồng;
- - Tiền trợ cấp thôi việc: 12.188.000 đồng.
- Tổng số tiền: 45.438.000 đồng.
Đối trừ với số tiền 28.011.000 đồng hỗ trợ tiền lương trước cổ phần mà bà H đã được thanh toán. Buộc Công ty Cổ phần T4 còn phải thanh toán cho bà H số tiền là: 17.427.000 đồng.
Không chấp nhận các yêu cầu khác của nguyên đơn.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu người phải thi hành án không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền theo quyết định của bản án này thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành tại thời điểm thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền thi hành án và kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm:
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bị đơn Công ty cổ phần T4 có đơn kháng cáo Bản án Lao động sơ thẩm số 13/2024/LĐ-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
Bà Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội sửa bản án lao động sơ thẩm số 13/2024/LĐ-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, với lý do: Bản án sơ thẩm tuyên chưa phù hợp với sự thật khách quan, tình tiết của vụ án, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của bà. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà.
Công ty Cổ phần T4 kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tòa án buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn phần nợ lương trước cổ phần hóa là không có cơ sở bởi nguyên đơn đã thỏa thuận không yêu cầu gì đối với khoản nợ này, mặt khác trách nhiệm trả nợ lương trước cổ phần hóa không phải của bị đơn.
Ngoài đơn kháng cáo, người kháng cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì.
- Tại Tòa án cấp phúc thẩm:
Tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, Bà Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và Công ty Cổ phần T4 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự thống nhất xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác để nộp cho Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thống nhất trình bày và nêu quan điểm (có bản luận cứ nộp cho HĐXX):
Đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của bà H cụ thể:
- + Có căn cứ xác định bà là người lao động của Công ty CP T4 đến thời điểm hiện tại.
- + Công ty phải có trách nhiệm trả nợ lương và các chế độ gồm: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà. Cụ thể: Tiền lương trước cổ phần (trước ngày 01/8/2017) tương ứng 50% lương trước cổ phần là 26.0111.000 đồng; Tiền nợ lương sau cổ phần là 860.000.000 đồng; Tiền đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 84.916.508 đồng.
- Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thống nhất trình bày và nêu quan điểm (có bản luận cứ nộp cho HĐXX):
Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Người lao động không có việc làm, không hình thành nên tài sản và quyền sở hữu tài sản nên khởi kiện về đòi tài sản là không có căn cứ. Đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng thời hiệu khởi kiện theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với khoản nợ lương trước cổ phần hóa thì không thuộc trách nhiệm của bị đơn. Tuy nhiên, bị đơn đã hỗ trợ 1 phần lương trước cổ phần cho nguyên đơn.
Đối với khoản lương sau cổ phần hóa, tiền đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Đều không thuộc trách nhiệm của công ty. Kể từ ngày 01/8/2017 đến nay thì bà H không còn là người lao động của công ty do Công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng nên Công ty không có trách nhiểm chi trả lương sau cổ phần cũng như các chế độ khác.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải bố trí việc làm cho nguyên đơn trường hợp không bố trí được thì phải bồi thường cho nguyên đơn 04 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt HĐ trái pháp luật. Yêu cầu này của nguyên đơn không có căn cứ để chấp nhận.
Các đương sự thống nhất xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác để nộp cho Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
6. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên tòa và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Các bên đương sự đều không xuất trình được hợp đồng lao động nhưng các bên đều thừa nhận việc nguyên đơn được bị đơn trả lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Căn cứ Điều 92 BLTTDS, xác định Công ty và người lao động là bà H đã xác lập quan hệ lao động. Bà làm việc từ năm 2002 nên có căn cứ xác định Hợp đồng lao động của bà H là loại Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Theo khoản 1 Điều 98 BLLĐ 2012, trong trường hợp phải ngừng việc, nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền lương. Lý do ngừng việc theo Thông báo số 28 không phải do lỗi của nguyên đơn. Vì vậy, Công ty T4 có nghĩa vụ trả số tiền lương còn lại cho nguyên đơn trong khoảng thời gian ngừng việc đến trước thời điểm cổ phần hóa.
- + Theo sổ Bảo hiểm xã hội, mã số: 2699038025, mức lương căn cứ đóng bảo hiểm của bà H từ tháng 07/2016 đến tháng 12/2016 là 3.500.000 đồng/tháng, từ 01/2017 đến hết tháng 7/2017 là: 3.750.000 đồng/tháng.
Tuy nhiên:
- Theo Quyết định số 06/QĐ-NMDK ngày 15/01/2012 của Giám đốc Nhà máy D1 v/v tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ quản lý thì bà H được phân công nhiệm vụ là Quản đốc phân xưởng May Nhà máy D1 từ ngày 15/01/2012.
- Theo Quyết định của Nhà máy D1 thì Quản đốc phân xưởng có mức lương hằng tháng là 10.000.000 đồng.
Vì vậy, có cơ sở xác định, lương của bà H 10.000.000 đ/tháng.
- + Ngày 01/8/2017, Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp cổ phần, mã số: 0100101724 cho Công ty cổ phần T4, ông Nguyễn Hải Đ là người đại diện theo pháp luật.
Như vậy, xác định thời điểm Công ty sau cổ phần hoá là ngày 01/8/2017.
Do đó, Công ty phải trả cho Nguyên đơn tiền lương trước cổ phần hoá còn nợ là 02 tháng của năm 2016 và 07 tháng của năm 2017.
- Ngày 01/9/2016, UBND thành phố H ban hành Quyết định số 4798/QĐ-UBND v/v phê duyệt phương án tái cơ cầu chuyển đổi Công ty TNHH MTV T4 thành công ty cổ phần, trong đó .... “Số lao động dự kiến chuyển sang làm việc tại công ty cổ phần là 109 người”.
- Ngày 01/08/2017, Công ty TNHH MTV T4 chính thức hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần, đổi tên thành Công ty cổ phần T4, do Công ty TNHH M1 đại diện phần vốn góp 99.79%. Sau đó, công ty T4 cho 15 người, không có bà H.
- Theo tài liệu do Toà án nhân dân quận Hoàn kiếm thu thập, có nội dung: từ ngày 01/8/2017, Công ty TNHH MTV T4 đã ngừng đóng báo hiểm xã hội và trả thẻ cho 77 người lao động (BL140-149), trong số lao động này có bà H. Lý do trả thẻ “Giải thể nhà máy D1”.
Như vậy, Công ty TNHH MTV T4 đã thực hiện phù hợp với Thông tư số 33/2012/TT-BLĐTBXH ngày 20/12/2012 của Bộ L3 hướng dẫn thực hiện chính sách đối với NLĐ theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ.
Vì vậy, có căn cứ xác định ngày 31/7/2017, Công ty TNHH MTV T4 đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà H được quy định tại khoản 10 Điều 36 BLLĐ năm 2012: “Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.”.
Tuy nhiên, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của Công ty T4 đối với bà H đã vi phạm về mặt hình thức là không ban hành quyết định, giao các văn bản này cho đương sự và vi phạm thời hạn báo trước theo khoản 2 Điều 38 BLLĐ năm 2012.
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ sở hữu nhà nước sang công ty cổ phầT4, trong đó nhà nước có thể giữ cổ phần chi phối hoặc không còn nắm giữ cổ phần. Theo P2, cổ phần hóa thuộc trường hợp “thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động”, bao gồm:
- + Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp (như: từ công ty TNHH sang công ty cổ phầT4).
- + Sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp.
- + Chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản.
(i) Về trợ cấp mất việc làm
- Theo khoản 1 Điều 44 quy định về: Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế.
- Theo quy định tại khoản 5 Điều 42 Bộ luật lao đông năm 2012 thì “Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”.
- Căn cứ vào mức lương đóng bảo hiểm xã hội thì người sử dụng lao động (bị đơn) còn phải bồi thường một khoản tiền là:
10.000.000 đồng x 1,5 tháng (45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn) = 15.000.000 đồng.
Như vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn.
Số tiền Công ty T4 phải trả cho nguyên đơn gồm:
- - Tiền nợ lương trước cổ phần từ tháng 11/2016 đến hết tháng 7/2017 là: 90.000.000 đồng; (sửa án sơ thẩm)
- - Tiền trợ cấp mất việc làm cho nguyên đơn là 07 tháng tiền lương: 10.000.000 đồng x 07 tháng = 70.000.000 đồng (sửa án sơ thẩm)
- - Bồi thường do vi phạm thời hạn báo trước: 15.000.000 đồng (sửa án sơ thẩm).
- Tổng số tiền: 175.000.000 đồng.
Nguyên đơn xác nhận đã nhận 26.011.000 đồng tiền lương trước cổ phần, nên cần khấu trừ các khoản tiền này.
Như vậy, H7 còn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền là: 148.989.000 đồng.
KSV đề xuất, căn cứ vào Điều 293, Điều 308 BLTTDS 2015:
- - Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn;
- - Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn. Sửa Bản án sơ thẩm, buộc Bị đơn trả Nguyên đơn các khoản tiền:
- + Lương trước cổ phần hóa: 90.000.000₫ - 26.011.000đ = 63.989.000đ;
- + Trợ cấp mất việc làm: 70.000.000 đ;
- + Vi phạm thời hạn báo trước: 15.000.000 đ
Tổng là 148.989.000 đồng.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1.1. Về thủ tục kháng cáo:
Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm và tuyên án ngày 19/09/2024. Ngày 27/09/2024 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm nhận Đơn kháng cáo của nguyên đơn và ngày 26/09/2024 nhận đơn kháng cáo của bị đơn. Đơn kháng cáo của các đương sự phù hợp với Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin miễn tiền nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, bị đơn đã nộp tạm ứng án phí nên đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn được chấp nhận đưa ra giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
1.2. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị H khởi kiện Công ty cổ phần T4 đòi tiền nợ lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Công ty cổ phần T4 có trụ sở tại số B phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm giải quyết là đúng thẩm quyền. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp lao động cá nhân về đòi tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp là xác định đúng quan hệ pháp luật.
1.3. Về thời hiệu khởi kiện:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 202. Bộ luật lao động năm 2012 “Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Xét thấy, đối tượng tranh chấp trong vụ án này là tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp là tranh chấp lao động, ngày 09/03/2023 giữa nguyên đơn và bị đơn có lập biên bản làm việc và thỏa thuận đến quý 3/2023 thì trả tiền lương, như vậy cần tính lại thời hiệu, tính đến ngày 20/3/2024 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện là trong thời hiệu. Mặt khác các yêu cầu về tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội liên quan đến quyền sở hữu nên tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Khoản 1 Điều 105, Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 xác định thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện là có căn cứ đúng pháp luật. Bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện là không có căn cứ để chấp nhận.
1.4. Về điều kiện khởi kiện:
Xét đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thấy tranh chấp lao động giữa nguyên đơn và bị đơn đã được Phòng Lao động và thương binh xã hội quận H tiến hành hoà giải và lập biên bản hòa giải lần 01 vào ngày 29/8/2023 và lần 02 ngày 13/9/2023 nên đơn khởi kiện của nguyên đơn đủ điều kiện theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012 và Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.5. Về việc bị đơn yêu cầu Tòa án đưa thêm người tham gia tố tụng:
Xét thấy, tại khoản 1 Điều 10, Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần T4 về nguyên tắc kế thừa quyền và nghĩa vụ của công ty cổ phần T4 chuyển đổi từ doanh nghiệp
100% vốn nhà nước, Công ty CP T4 đã kế thừa mọi quyền lợi trách nhiệm đối với người lao động từ doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa chuyển sang. Do vậy, việc đưa Ban chỉ đạo cổ phần hóa, Công ty TNHH MTV T4, Công ty TNHH M1 (DATC) và cơ quan có thẩm quyền quyết định cổ phần hóa vào tham gia tố tụng là không cần thiết. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty Cổ phần T4 đã kế thừa toàn bộ tư cách pháp lý, kế thừa quyền và nghĩa vụ của Công ty TNHH MTV T4 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
1.6. Về phạm vi giải quyết phúc thẩm:
Theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án sơ thẩm có kháng cáo, các phần còn lại của bản án có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Các đương sự kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nên Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tòa bộ nội dung của bản án sơ thẩm.
2.1. Yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc chấm dứt hợp đồng lao động giữa Công ty Cổ phần T4 và bà Nguyễn Thị H vào ngày 25/11/2022:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, Nguyên đơn có Hợp đồng lao động có hiệu lực từ ngày 01/10/2005 được ký kết giữa nguyên đơn và Công ty Liên doanh T7 do bà Phạm Thị L là Tổng giám đốc và theo Quyết định số 06/QĐ-NMDK ngày 15/01/2012 của Nhà máy D1 do ông Nguyễn Cự T3 là Giám đốc ký. Tuy nguyên đơn không giữ Hợp đồng lao động với Công ty TNHH MTV T4 nhưng trong Quyết định số 06/QĐ-NMDK ngày 15/01/2012 xác định bà H là Quản đốc phân xưởng may Nhà máy D1. Căn cứ sổ bảo hiểm xã hội mã số 2699038025 do Bảo hiểm xã hội huyện G cung cấp thì bà H được tham gia đóng bảo hiểm xã hội liên tục từ tháng 10/2002 đến hết tháng 7/2017. Do vậy xác định bà H là người lao động của Công ty TNHH MTV T4 theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Xét thấy Hợp đồng lao động được ký kết bởi người có thẩm quyền, hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Nên giữa nguyên đơn và Nhà máy D1 đã phát sinh quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng lao động.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Từ năm 2011, do kinh doanh thua lỗ, tài chính khó khăn, Công ty TNHH MTV T4 đã nợ lương, nợ bảo hiểm, nợ nhà cung cấp, nợ ngân hàng.
Ngày 01/9/2016, UBND thành phố H ban hành quyết định số 4798/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tái cơ cầu chuyển đổi Công ty TNHH một thành viên T4 thành công ty cổ phần.
Ngày 01/08/2017, Công ty TNHH MTV T4 chính thức hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần, đổi tên thành Công ty cổ phần T4, do Công ty TNHH M1 (DATC) đại diện phần vốn góp 99.79%. Sau đó công ty T4 cho 16 người lao động, trong đó không có bà Nguyễn Thị H.
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện từ ngày 01/8/2017, Công ty TNHH MTV T4 đã ngừng đóng báo hiểm xã hội và trả thẻ cho 77 người lao động, trong số lao động này có bà Nguyễn Thị H. Lý do trả thẻ “Giải thể nhà máy D1”.
Việc Công ty TNHH MTV T4 đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là phù hợp với qui định tại điểm c khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012 và phù hợp với Thông tư 33/2012/TT-BLĐTBXH ngày 20/12/2012 của Bộ L3 hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ.
Tuy nhiên, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của Công ty TNHH một thành viên T4 vi phạm về mặt hình thức là không ban hành quyết định, không báo trước cho người lao động biết là vi phạm thời hạn báo trước theo khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2015. Công ty cũng chưa hoàn thành các nghĩa vụ đối với người lao động.
Từ các phân tích trên có căn cứ khẳng định Hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H và Công ty TNHH MTV T4 đã chấm dứt vào ngày 31/07/2017 và không thông báo cho nguyên đơn. Vì vậy, toà án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu trở lại làm việc của bà Nguyễn Thị H là có cơ sở.
Nên HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà H về việc buộc Bị đơn có nghĩa vụ nhận lại làm việc và thanh toán 04 tháng tiền lương đối với bà H.
2.2. Về quyền lợi của bà Nguyễn Thị H khi Công ty TNHH MTV T4 đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
- Tiền nợ lương trước cổ phần hóa:
Bà H kháng cáo không đồng ý với mức lương được hưởng là 3.750.000 đồng/tháng, đề nghị áp dụng mức lương thực tế của bà H từ tháng 5/2016 là 10.000.000 đồng/tháng được thể hiện qua biên bản ngày 25/11/2022 trả 50% lương là 26.011.000đồng.
HĐXX nhận thấy: Ngày 10/10/2016, Công ty T4 có Thông báo số 28/TB-NM về việc tạm nghỉ việc do chưa có hợp đồng về may. Theo nội dung Thông báo số 28, kể từ ngày 11/10/2016, toàn bộ phân xưởng may tạm nghỉ chờ việc cho đến khi có hợp đồng mới, tiền lương, các chế độ đi kèm vẫn được hưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Bà H đã ngừng việc theo Thông báo số 28 của Công ty T4 đến hết 31/7/2017. Nên không có cơ sở để chấp nhận mức lương của bà H yêu cầu là 10.000.000 đồng/tháng với vị trí Quản đốc phân xưởng.
Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ khoản 1 Điều 98 BLLĐ 2012, để buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nốt số tiền lương còn lại cho nguyên đơn trong khoảng thời gian ngừng việc đến trước thời điểm cổ phần hóa.
Theo sổ Bảo hiểm xã hội, mã số: 2699038025, mức lương căn cứ đóng bảo hiểm của bà H từ tháng 01/2016 đến tháng 5/2016 là 3.500.000 đồng/tháng, từ 01/2017 đến hết tháng 7/2017 là: 3.750.000 đồng/tháng.
Bà H nghỉ việc ngày 10/10/2016 đến ngày 31/07/2017 là 02 tháng của năm 2016 và 07 tháng của năm 2017 thành tiền: (3.500.000 đồng/tháng x 2) + (3.750.000 đồng/tháng x 7) = 33.250.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cũng đã xác nhận đã được bị đơn trả 2.000.000 đồng tiền lương tháng 11/2016 và số tiền 26.011.000 đồng nên cần khấu trừ vào khoản tiền lương trước cổ phần. Như vậy, bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền là: 33.250.000 đồng – 26.011.000 đồng – 2.000.000 đồng = 5.239.000 đồng.
- Tiền trợ cấp mất việc làm:
Căn cứ vào Sổ Bảo hiểm xã hội, mã số: 2699038025, bà H đã tham gia BHXH liên tục từ tháng 10/2002 và BHTN liên tục từ tháng 01/2009 đến tháng 07/2017 tổng thời gian tham gia Bảo hiểm xã hội là 14 năm 9 tháng, thời gian tham gia Bảo hiểm thất nghiệp là: 8 năm 7 tháng. Từ tháng 1 - 7/2017, mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm của bà H là 3.750.000 đồng. Như vậy, bà H được hưởng trợ cấp mất việc làm là: 3.750.000 đồng x 7 tháng = 26.250.000 đồng.
- Tiền vi phạm thời hạn báo trước.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 42 Bộ luật lao đông năm 2012 thì “. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”.
Căn cứ vào mức lương đóng bảo hiểm xã hội thì người sử dụng lao động còn phải bồi thường một khoản tiền là: (3.750.000 đồng : 26) x 45 ngày = 6.490.384 đồng.
Tổng Số tiền mà bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là:
5.239.000đồng + 26.250.000 đồng + 6.490.384 đồng = 37.980.000 đồng (làm tròn số).
Từ các phân tích trên, cần áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, Sửa bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
Bà Nguyễn Thị H (có sổ Bảo hiểm xã hội, mã số: 2699038025) được quyền đến cơ quan Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để yêu cầu thanh toán tiền trợ cấp thất nghiệp tương ứng với thời gian đóng bảo hiểm của bà H theo qui định của luật Bảo hiểm xã hội.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 74; khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 3 Điều 36; Điều 48; Điều 190 của Bộ luật lao động năm 2012;
- Căn cứ Điều 2, Điều 21, Điều 88, Điều 89 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014;
- Căn cứ Điều 44, Điều 57 của Luật việc làm năm 2013;
- Căn cứ khoản 4 Điều 202 Luật Doanh nghiệp 2020;
- Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị H. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần T4; sửa một phần bản án sơ thẩm.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với Công ty cổ phần T4 về tranh chấp: Đòi tiền lương, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp.
Buộc Công ty cổ phần T4 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H các khoản tiền sau:
- - Tiền nợ lương trước thời điểm cổ phần hóa: 5.239.000 đồng;
- - Tiền trợ cấp mất việc làm: 26.250.000 đồng;
- - Tiền vi phạm thời hạn báo trước: 6.490.384 đồng;
Tổng số tiền Công ty Cổ phần T4 còn phải thanh toán cho bà H là: 37.980.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu đòi tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và nhận bà trở lại làm việc sau khi công ty cổ phần hóa của bà H.
2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu người phải thi hành án không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền theo quyết định của bản án này thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành tại thời điểm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bà Nguyễn Thị H (có sổ Bảo hiểm xã hội, mã số: 2699038025) được quyền đến cơ quan Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để yêu cầu thanh toán tiền trợ cấp thất nghiệp tương ứng với thời gian đóng bảo hiểm của bà H theo qui định của luật Bảo hiểm xã hội.
3. Về án phí:
- Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí lao đông sơ thẩm và án phí lao động phúc thẩm.
- Công ty cổ phần T4 phải chịu 1.140.000 (Một triệu một trăm bốn mươi nghìn) đồng án phí lao động sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0069028 ngày 09/10/2024 của Chi cục THA dân sự quận H.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN Tống Quốc Thanh |
Bản án số 13/2025/LĐ-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng lao động
- Số bản án: 13/2025/LĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng lao động
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng lao động
