Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Án số: 13/2025/KDTM-PT.

Ngày 24/3/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

mượn tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Bình.
  • Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tính, ông Hoàng Ngọc Sơn.
  • Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Mai Loan.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản” thụ lý số: 22/2024/TLPT- KDTM ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2024/KDTMST, ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Nịnh bị kháng cáo và bị kháng nghị, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17 /2025/QĐXXPT-KDTM ngày 20/01/2025, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH V1. Trụ sở tại: KCN Đ - H, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh. Do ông Jung Jae K – đại diện theo pháp luật, ủy quyền cho bà Khuất Thị T, sinh năm 1991 đại diện (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Vũ Văn N- Luật sư Công ty L2– Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).

- Bị đơn: Công ty TNHH N1. Địa chỉ: KCN Đ - H, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh do ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1983 – Chức vụ: Giám đốc đại diện (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, Luật sư Công ty L3- Chi nhành Bắc Ninh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Công ty T5; Trụ sở tại: Lô C đường N KCN Đại Đồng H, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh Do ông Lê Đức S, sinh năm 1972 – Chức vụ: Giám đốc đại diện có đơn xin vắng mặt.

2. Công ty TNHH Q1 Địa chỉ: Lô C đường N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh do ông Nguyễn Văn Q – Chức vụ: Giám đốc đại diện (ông Q chết tháng 2/2023)

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Q:

  • - Cụ Nguyễn Thị B1, sinh năm 1939, cư trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
  • - Anh Nguyễn Quốc V, sinh ngày 18/5/2003; Trú tại: H7 TT1 BT5 Khu T, phường X, quận B, TP Hà Nội (vắng mặt)
  • - Cháu Nguyễn Sơn T1, sinh ngày 26/10/2010 và cháu Nguyễn Tuấn P, sinh ngày 13/4/2014; Đại diện theo pháp luật cho cháu T1 và cháu P là bà Trần Thị M, sinh năm 1992. Trú tại: Khu phố V, phường Đ, TP T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
  • - Cháu Nguyễn Bảo L, sinh ngày 19/12/2019, đại diện theo pháp luật của cháu L là Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1990. Trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1991. Trú tại: P Chung cư M - Phường Đ, TP T- Bắc Ninh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cũng như các lời khai tại Tòa án, tại phiên tòa bà Khuất Thị T là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Công ty TNHH V1 trình bày:

Nguyên đơn và Công ty TNHH N1 (Giám đốc đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn B - gọi tắt là công ty ông B) có mối quan hệ là hai đối tác làm ăn. Quan hệ giữa hai công ty bắt đầu từ khi công ty ông B được thành lập vào khoảng tháng 3 năm 2023. Ngoài ra, cá nhân ông B trước đây là nhân viên cũ của nguyên đơn.

Về quan hệ hợp tác giữa nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn cho công ty ông B mượn máy móc (các máy ép nhựa) để công ty ông B gia công sản phẩm (các linh kiện điện thoại) và nguyên đơn cũng là một trong các đối tác nhập các sản phẩm của công ty ông B sản xuất để phục vụ cho hoạt động của công ty mình. Bản chất nguyên đơn cũng là công ty gia công các sản phẩm về nhiều loại linh kiện điện thoại nên sau khi nhận được nhiều đơn hàng nguyên đơn sẽ giao một phần công việc cho công ty ông B thực hiện và giao lại thành phẩm cho nguyên đơn. Trên hình thức là nguyên đơn cho công ty ông B mượn máy móc, nguyên đơn còn giao nguyên vật liệu cho công ty ông B để gia công sản phẩm, công ty ông B chỉ có nhân công thực hiện công việc còn lại vật liệu đều là của nguyên đơn cung cấp đủ cho việc gia công đối với đơn hàng còn về máy móc ngoài các máy móc mà nguyên đơn cho mượn phía công ty ông B cũng tự có một số máy móc riêng của mình. Trên thực tế khi nguyên đơn cho công ty ông B mượn máy móc là nguyên đơn cũng có lợi nhuận chứ không phải cho mượn không. Lợi nhuận ở đây được tính vào giá thành sản phẩm công ty ông B giao lại cho nguyên đơn theo từng đơn hàng mà nguyên đơn chuyển đến (giá của những sản phẩm được thực hiện bởi máy móc của nguyên đơn khi ông B chuyển lại thành phẩm cho nguyên đơn thì nguyên đơn sẽ được giá thấp hơn).

Giữa nguyên đơn và công ty T5 không hề có mối quan hệ giao dịch gì nhưng trên thực tế hai công ty có quen biết nhau vì trước đây cũng có thời kỳ nguyên đơn thuê xưởng của Công ty T5.

Nguyên đơn và công ty TNHH Q1 do ông Nguyễn Văn Q là Giám đốc đại diện theo pháp luật (gọi tắt là công ty ông Q) có quan hệ là hai công ty đối tác làm ăn từ năm 2016. Khoảng tháng 10/2022 ông Q bị tai nạn dẫn đến tình trạng sống thực vật.

Về quan hệ giữa nguyên đơn và công ty ông Q cũng tương tự như nguyên đơn với công ty ông B (nguyên đơn cũng cho mượn máy, giao đơn hàng cho công ty ông Q sản xuất sau đó nhận lại thành phẩm của các đơn hàng với giá thấp hơn). Cụ thể các máy móc mà nguyên đơn cho công ty ông Q mượn hiện tại nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh bởi vì trước đó ông Q cũng là nhân viên của nguyên đơn nên sau khi ông Q đứng ra thành lập công ty riêng (Công ty TNHH Q1) thì vì là chỗ quen biết nên khi cho mượn máy nguyên đơn đã không lập hợp đồng hay giấy tờ gì thể hiện nguyên đơn cho công ty ông Q cho mượn máy móc. Thời điểm ông Q thành lập công ty riêng thì ông B cũng thôi việc tại nguyên đơn và sau đó ông B làm nhân viên tại công ty của ông Q.

Khi ông Q gặp tai nạn (tháng 10/2022) hoạt động của công ty thời gian đầu vẫn tiếp tục dưới sự quản lý và điều hành của ông B. Công ty của ông Q đại diện theo pháp luật duy nhất là ông Q làm Giám đốc ngoài ra công ty không có Phó Giám đốc cũng không có chức danh quản lý nào khác. Ông B chỉ là nhân viên và trên thực tế ông B đảm nhiệm công việc như của một người quản lý của công ty ông Q nên sau khi ông Q bệnh nằm đó thì ông B tiếp tục điều hành hoạt động của công ty.

Tháng 3/2023 công ty ông Q không tiếp tục duy trì hoạt động được vì tình trạng bệnh của ông Q vẫn trầm trọng không ai đứng ra điều hành được công ty nên giữa nguyên đơn với công ty ông Q có kế hoạch thanh tất toán toàn bộ các khoản nợ nần giữa hai công ty (nguyên đơn còn nợ tiền hàng hóa chưa thanh toán hết cho công ty của ông Q). Toàn bộ tiền hàng nguyên đơn còn nợ nguyên đơn đã chuyển khoản cho công ty ông Q sau khi đối chiếu toàn bộ công nợ với kế toán của ông Q. Đến tháng 5/2023, nguyên đơn đã thanh toán xong khoản nợ tiền hàng đối với công ty của ông Q nhưng máy móc cho công ty ông Q mượn thời điểm đó nguyên đơn chưa lấy về và cũng cùng khoảng thời gian đó từ tháng 3 đến tháng 5/2023 ông B sang nói chuyện với nguyên đơn về tình trạng bệnh tật của ông Q và ý định của ông B thành lập một công ty mới khác để thay thế công ty của ông Q hoạt động và ông B vẫn tiếp tục đề nghị nguyên đơn cho công ty ông B mượn máy móc để tiếp tục hoạt động (trên cơ sở pháp lý công ty ông B là công ty hoàn toàn khác nhưng về thực tế máy móc và nhân sự đều được chuyển từ công ty ông Q sang để hoạt động). Với đề xuất của ông B về việc tiếp tục mượn máy móc thì nguyên đơn cũng nhất trí cho ông B mượn máy để giúp đỡ ông Q một phần kinh tế để lo bệnh tật.

Sau khi thành lập công ty thời gian đầu công ty ông B vẫn hoạt động bình thường, vẫn nhận đơn hàng và giao hàng cho nguyên đơn bình thường. Đến khoảng tháng 8/2023 ông B có thông tin cho nguyên đơn là công ty ông B đang gặp nhiều khó khăn và có khả năng phải chấm dứt hoạt động nên đề nghị nguyên đơn bố trí thời gian thu hồi máy móc về (Công văn đề nghị của ông B vào ngày 15/9/2023). Trong công văn của công ty ông B đã yêu cầu nguyên đơn phải thu hồi tài sản trong tháng 9/2023 vì tháng 10 công ty ông B sẽ dừng mọi hoạt động sản xuất và trả lại nhà xưởng (nhà xường của công ty ông B thuê của công ty T5). Từ đề xuất của công ty ông B nguyên đơn cho nhân công sang chuẩn bị cho việc thu hồi máy nhưng công ty T5 khóa cửa không cho nhân viên của nguyên đơn vào, không đồng ý cho nguyên đơn thu hồi máy.

Sau đó nguyên đơn được công ty T5 (gọi tắt là công ty ông S) nói chuyện về việc máy móc của công ty ông S thu hồi để đối trừ công nợ trong đó có 08 bộ máy ép nhựa mà nguyên đơn cho công ty ông Q mượn trước đó và sau khi ông B thành lập công ty vẫn tiếp tục sử dụng 08 bộ máy ép nhựa này. Nguyên đơn có nói cho công ty T5 biết 08 bộ máy ép nhựa là của nguyên đơn cho công ty ông B mượn nên đến nay nguyên đơn muốn thu hồi máy móc của mình về tuy nhiên phía công ty T5 xác định nguyên đơn phải liên hệ với gia đình ông Q và công ty ông B để tất toán toàn bộ khoản nợ từ công ty ông Q đối với công ty T5 thì họ sẽ trả lại máy móc còn họ không quan trọng máy móc đó là của ai vì công ty T5 đang giữ các máy móc đó để đối trừ công nợ của công ty ông Q. Do không lấy lại được tài sản, nguyên đơn phải khởi kiện ra Tòa án.

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu đưa Công ty T5 vào tham gia tố tụng vì nguyên đơn bị công ty T5 cản trở việc thu hồi máy. Quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án đưa Công ty TNHH Q1 và các thành viên thuộc hàng thừa kế của ông Q vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là để làm rõ nội dung vụ án vì Công ty ông Q là chủ cũ toàn bộ tài sản của công ty ông B. Công ty ông Q mượn máy của nguyên đơn và sau khi ông Q mất thì Công ty ông B tiếp nhận toàn bộ máy móc này. Hàng thừa kế của ông Q liên quan đến tài sản của công ty ông Q vì ông Q đã mất nên họ kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Q về toàn bộ tài sản của công ty vì vậy nguyên đơn yêu cầu đưa họ vào tham gia tố tụng để hiểu rõ nội dung vụ án. Việc quan hệ giữa công ty ông B với công ty ông S như thế nào hay quan hệ giữa công ty ông S với công ty ông Q trước đây như thế nào nguyên đơn không liên quan vì công ty ông B phải tự giải quyết việc riêng tư với công ty ông S để tránh việc công ty ông S cản trở việc công ty ông B trả lại máy móc đã mượn của nguyên đơn.

Nguyên đơn xác nhận đối tượng nguyên đơn khởi kiện là Công ty TNHH N1 bởi việc Công ty ông Q mượn máy của nguyên đơn đã tự chấm dứt từ thời điểm ông B ký kết hợp đồng mượn máy đối với nguyên đơn nên nguyên đơn chỉ khởi kiện đối với công ty ông B theo hợp đồng mượn tài sản hai bên đã ký kết. Nguyên đơn yêu cầu công ty ông B trả lại tài sản là 08 bộ máy ép nhựa theo Hợp đồng mượn tài sản YS-HT VINA 2023 lập ngày 01/4/2023 giữa nguyên đơn và công ty ông B (đây cũng là chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với bị đơn trong vụ án).

Bị đơn do ông B là đại diện theo pháp luật trình bày: Bị đơn biết rõ việc nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn và căn cứ khởi kiện của nguyên đơn là Bản Hợp đồng mượn tài sản YS-HT VINA 2023 ký kết ngày 01/4/2023 giữa nguyên đơn và bị đơn. Đối với căn cứ khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn xác nhận bản Hợp đồng đúng là bị đơn ký tại Bên B. Về thực tế nguồn gốc của bản hợp đồng này bị đơn trình bày như sau:

Thời điểm ký kết hợp đồng ông B đã thành lập công ty (Công ty TNHH N1- công ty được thành lập vào tháng 3/2023 mà thời gian hai bên ký kết hợp đồng là tháng 4/2023). Lý do ông B thành lập công ty là do công ty TNHH Q1 do ông Nguyễn Văn Q làm giám đốc đại diện theo pháp luật không hoạt động được bởi ông Q ốm nặng (sống trong tình trạng người thực vật) nên ông B phải thành lập công ty khác trên cơ sở pháp lý còn thực tế công việc ông B vẫn tiếp tục theo hoạt động cũ của công ty ông Q. Trụ sở hoạt động, nhà xưởng- Công ty ông B tiếp tục thuê của công ty ông S. Máy móc vẫn trên cơ sở cũ công ty ông B tiếp nhận từ công ty ông Q vào thời điểm khi Bị đơn mới thành lập ộng thêm một số máy móc mà cá nhân ông B tự sắm sửa cũng đặt tại xưởng đó. Số máy móc của ông B đã mua từ thời điểm ông Q còn bình thường và ông Q đồng ý cho ông B gửi máy tại xưởng. Việc gửi máy hoạt động trong công ty ông Q giữa ông B và ông Q hay công ty ông Q đều không lập biên bản gì hay có bất kỳ tài liệu nào thể hiện nội dung này. Việc thành lập công ty cũng là để đảm bảo việc tiếp tục tiếp nhận các đơn hàng của nguyên đơn và khi có đơn hàng mới chuyển sang thì ông phải ký nhận các đơn hàng trên danh nghĩa công ty của ông. Thời gian sau, nguyên đơn cho nhân viên mang Hợp đồng cho mượn tài sản sang công ty ông yêu cầu ông B ký (chính là bản Hợp đồng mà nguyên đơn lấy làm căn cứ khởi kiện Bị đơn như bây giờ). Nhân viên bên nguyên đơn cầm 02 bản hợp đồng sang công ty ông, 02 bản hợp đồng này đã có chữ ký và đóng dấu đỏ của bên nguyên đơn nên sau khi nhận được 02 bản hợp đồng ông đã ký và đóng dấu công ty ông mình vào Bên B tại Hợp đồng. Bị đơn giữ lại 01 bản hợp đồng gốc và chuyển lại cho nguyên đơn 01 bản gốc. Lý do Bị đơn ký hợp đồng đó vì thực tế trước đây khi ông Q còn khỏe và ông vẫn là nhân viên công ty ông Q thì ông cũng nghe thông tin là có một số máy móc công ty ông Q mượn nguyên đơn còn mượn máy gì, thời điểm nào ông không biết vì đây cũng chỉ là thông tin ông nghe đồn thôi còn ông không chứng kiến cũng không nhìn thấy việc nguyên đơn và công ty ông Q cho nhau mượn hay có giao dịch gì về máy móc. Chính vì có các thông tin như vậy và cũng có lần thấy phía nguyên đơn có người sang xưởng công ty ông Q xem xét máy móc nên khi nguyên đơn chuyển hợp đồng mượn tài sản sang thì ông cũng chỉ nghĩ đơn giản những cái máy này không phải do ông tạo dựng ra nên ông ký hợp đồng mượn tài sản mà nguyên đơn gửi cho ông. Ông xác nhận có ký hợp đồng mượn tài sản này nhưng không hề có việc ông sang gặp nguyên đơn đặt vấn đề mượn máy móc như nguyên đơn trình bày. Ngoai việc ký kết giấy tờ (Hợp đồng mượn tài sản) Nguyên đơn cũng không hề chuyển giao cho Bị đơn bất kỳ tài sản nào. 08 bộ máy ép nhựa mà nguyên đơn kiện đòi Bị đơn trong vụ án này trên thực tế Bị đơn không hề mượn tài sản này từ nguyên đơn. Nguyên đơn không giao các bộ máy này cho bị đơn và bị đơn cũng không được nhận (mượn) bất kỳ tài sản nào của nguyên đơn. Toàn bộ nội dung này nguyên đơn đều nắm rõ và đều thừa nhận trong quá trình làm việc tại Tòa án. Bị đơn không được nhận 08 bộ máy này trên thực tế nên việc nguyên đơn căn cứ vào hợp đồng mượn tài sản hai bên chỉ ký kết trên giấy tờ để khởi kiện Bị đơn buộc Bị đơn phải nhận trách nhiệm trả lại tài sản theo hợp đồng đã ký là không có căn cứ và không đúng sự thật. Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Công ty T5 do ông S đại diện theo pháp luật) có lời khai trình bày: Công ty ông đã biết rõ về đối tượng bị nguyên đơn khởi kiện trong vụ án này là công ty TNHH N1 do ông Nguyễn Văn B là giám đốc đại diện theo pháp luật. Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là Bản Hợp đồng mượn tài sản YS-HT VINA 2023 ký kết ngày 01/4/2023 giữa nguyên đơn và bị đơn. Đối với công ty ông B có quan hệ với công ty ông (còn được gọi tắt là Công ty T5) bắt nguồn từ việc tháng 3/2023 công ty T5 thu hồi toàn bộ tài sản từ Công ty TNHH Q1 Đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Q1 là ông Nguyễn Văn Q-Giám đốc. Thời điểm công ty T5 thu hồi nợ từ Công ty TNHH Q1, Giám đốc là ông Q đang ở trạng thái người thực vật do ảnh hưởng vụ tai nạn khoảng tháng 9, tháng 10 năm 2022. Thời gian trước đó giữa công ty T5 và Công ty của ông Q có giao dịch làm ăn, Công ty ông Q thuê xưởng của công ty T5, Công ty ông Q nợ cả tiền thuê xưởng và tiền mặt vay của công ty T5 nên khi ông Q bệnh không ai đứng ra giải quyết vì công ty của ông Q chỉ có đại diện theo pháp luật là ông Q (Giám đốc) ngoài ra không có phó giám đốc hay chức danh được bổ nhiệm nào khác. Ông Nguyễn Văn B thời gian đó là nhân viên của công ty ông Q và trên thực tế đứng ra quản lý mọi việc của Công ty thay ông Q lúc ông Q bệnh. Để giải quyết nợ nần giữa công ty ông Q với công ty T5, công ty T5 có mời gia đình ông Q và lúc đó về phía công ty ông Q có ông B đại diện có mặt và các bên đã làm việc vào ngày 06/3/2023. Nội dung làm việc theo biên bản cuộc họp. Tổng nợ lúc đó của công ty ông Q với công ty T5 là 6.144.261.200 đồng. Tuy nhiên danh mục tài sản thế chấp công ty T5 thu hồi để đối trừ công nợ mà Công ty T5 liệt kê trong biên bản cuộc họp chỉ có tổng giá trị là 5.061.270.000 đồng. Sau buổi làm việc ngày 06/3/2023, ông Nguyễn Văn B đứng ra thành lập công ty TNHH N1 do ông B làm giám đốc đại diện theo pháp luật. Sau khi công ty của ông B thành lập xong, công ty T5 đã giao toàn bộ máy móc thu hồi từ công ty của ông Q sang cho công ty của ông B quản lý, sử dụng. Công ty ông B thuê nhà xưởng của công ty T5 để làm trụ sở và là nơi hoạt động của công ty (các xưởng của công ty ông B). Trên thực tế công ty của ông B không có tài sản gì mà toàn bộ tài sản là tiếp nhận của Công ty ông Q. Thời điểm đó ông B xác định rõ trách nhiệm hoạt động của công ty ông ấy ngoài việc trả tiền thuê nhà xưởng cho công ty T5 thì còn phải có trách nhiệm thay công ty của ông Q trả khoản tiền mà công ty ông Q còn nợ với công ty T5. Hoạt động giữa công ty T5 và công ty ông B ổn định đến khoảng tháng 9, tháng 10 năm 2023 công ty T5 nhận được thông tin ông B đang chuẩn bị di dời một số máy ra khỏi xưởng nên công ty T5 đã giữ máy lại không cho phép ông B được di dời. Đến đầu tháng 11/2023 Công ty T5 mới biết được sự việc ông B tự ý ký kết Hợp đồng mượn máy của công ty TNHH V1 trong khi các máy móc đó toàn bộ là của công ty T5 thu hồi của công ty ông Q (vị trí máy móc nhà xưởng vẫn đặt tại địa bàn của công ty T5 vì nhà xưởng trước công ty ông Q thuê của công ty T5, sau khi ông B thành lập công ty M1 vẫn tiếp tục ký hợp đồng thuê nhà xưởng đó của công ty T5) sau khi thu hồi tài sản của công ty ông Q để đối trừ công nợ công ty T5 tiếp tục giao cho công ty ông B quản lý, sử dụng sau khi công ty ông B được thành lập.

Về thực tế quan hệ giữa công ty T5 và công ty ông Q (việc nợ nần như thế nào) là quan hệ cá nhân giữa công ty ông Q và công ty T5 không liên quan đến vụ án này. Khi ông Q bệnh tật công ty ông Q không thể duy trì hoạt động mà máy móc vẫn đặt tại nhà xưởng thuê của công ty T5 thì công ty T5 vẫn tiếp quản để đối trừ vào công nợ giữa hai công ty. Khi công ty ông B thành lập thì công ty T5 mới giao lại toàn bộ các tài sản (máy móc) cho ông B tiếp quản sử dụng và ông B ký kết hợp đồng thuê nhà xưởng của công ty T5 để hoạt động. Trong toàn bộ số máy móc công ty T5 bàn giao cho công ty ông B công ty T5 chỉ biết nguồn gốc toàn bộ các máy móc trước đó đều thuộc công ty ông Q quản lý, sử dụng còn nguồn gốc của tài sản đó công ty ông Q mua, mượn hay thuê... của ai công ty T5 không biết rõ. Công ty T5 xác định không liên quan đến việc nguyên đơn và Bị đơn khởi kiện đòi nhau về việc cho mượn máy. Công ty T5 hiện tại có 08 bộ máy mà nguyên đơn khởi kiện đòi Bị đơn nhưng 08 bộ máy này cùng các máy móc khác là tài sản của công ty ông Q vẫn để tại Công ty T5 và hiện công ty ông Q còn nợ tiền thuê nhà xưởng và tiền nợ cá nhân đối với công ty T5. Ông Q mất toàn bộ tài sản vẫn để tại kho của công ty T5 còn biển công ty ông Q không biết ai đang giữ. Về nợ nần giữa công ty ông Q, công ty T5 chưa giải quyết vì ông Q đã mất. Công ty T5 không liên quan đến nội dung khởi kiện giữa nguyên đơn đối với bị đơn và công ty T5 xác định cũng không có yêu cầu độc lập trong vụ án. Mối quan hệ giữa công ty T5 với công ty ông Q hay công ty T5 với công ty ông B các bên sẽ tự giải quyết với nhau.

Đối với Công ty TNHH Q1 đại diện theo pháp luật của công ty là ông Nguyễn Văn Q đã chết. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Q có nội dung trình bày:

Cụ Nguyễn Thị B1 (mẹ ông Q) có lời khai trình bày: Chồng bà (cụ Nguyễn văn T3) đã chết năm 2022. Cụ không biết gì về công việc của công ty ông Q. Cụ không đồng ý kế thừa quyền và nghĩa vụ của công ty ông Q. Việc các công ty kiện nhau tùy Tòa án giải quyết cụ không liên quan và không tham gia nên Tòa án đừng báo cụ làm việc. Cụ và gia đình cụ không hề giữ giấy tờ gì của công ty ông Q. Ông Q khi còn sống có chung sống và có con chung với những người sau:

  • Cô H (ở Hà Nội) có 01 con chung là Nguyễn Quốc V, sinh năm 2003 (hai người không đăng ký kết hôn)
  • Cô Trần Thị M (có đăng ký kết hôn nhưng đã ly hôn) có 02 con chung là Nguyễn Sơn T1 và Nguyễn Tuấn P đều đang ở cùng mẹ tại T, Bắc Ninh.
  • Cô Nguyễn Thị T2 (không đăng ký kết hôn) và có 01 con chung là Nguyễn Bảo L trước hai mẹ con ở nhà cụ nhưng hiện hai mẹ con ở Nghệ An.

Ngoài ra ông Q không ở với ai và không có con cái nào khác.

Anh Nguyễn Quốc V (con trai ông Q) có lời khai trình bày: Anh hiện tại ở cùng mẹ tại phường T, quận N, TP Hà Nội. Anh là con ông Q. Anh đã nhận được thông báo của Tòa án báo về làm việc nhưng anh xác nhận không biết gì về công ty và việc làm ăn của bố. Anh không liên quan đến vụ việc Tòa án thông báo và cũng không liên quan tới việc Tòa án giải quyết với công ty của bố nên anh từ chối về làm việc với Tòa án.

Đối với chị Nguyễn Thị T2, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du đã có quyết định ủy thác đến Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An thu thập chứng cứ đối với chị T2. Quá trình làm việc chị T2 có lời khai trình bày: Chị sống chung như vợ chồng với ông Nguyễn Văn Q nhưng cả hai không đăng ký kết hôn. Chị và ông Q có 01 con chung là Nguyễn Bảo Lâm sinh ngày 19/12/2019. Chị không biết gì về công việc kinh doanh của ông Q, không tham gia bất kỳ hoạt động nào của công ty ông Q. Khi sống chung chị chỉ làm nội trợ gia đình. Ông Q mất chị không nhận giữ bất kỳ tài liệu gì của công ty bàn giao. Với tư cách là đại diện hợp pháp của cháu L chị từ chối kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Q theo khởi kiện của Công ty TNHH V1. Chị đã được gia đình thông báo cho biết các văn bản tố tụng Tòa án nhân dân huyện Tiên Du gửi nhưng chị từ chối tham gia nên không đến Tòa án huyện T làm việc. Nếu sau này tòa án tiếp tục triệu tập chị cũng sẽ không đến;

Đối với chị Trần Thị M (mẹ cháu Nguyễn Sơn T1, Nguyễn Tuấn P) có hộ khẩu thường trú tại V, phường Đ, TP T Tòa án đã gửi thông báo hợp lệ nhiều lần nhưng chị M và các con luôn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không lấy lời khai được của chị M và các con.

Quá trình giải quyết vụ án các bên luôn giữ nguyên quan điểm. Giữa nguyên đơn và Bị đơn đều không hòa giải được;

Tại phiên sơ thẩm tòa Nguyên đơn đã mời bà L1 đến tham dự phiên tòa và đề nghị HĐXX bổ sung tư cách tham gia tố tụng tại phiên tòa (người làm chứng) đối với bà Nguyễn Thị L1. Về quan điểm khởi kiện: Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm khởi kiện đối với Bị đơn. Ngoài ra, nguyên đơn xác nhận tài sản nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn có nguồn gốc là tài sản của nguyên đơn. Năm 2017 nguyên đơn đã cho công ty ông Q mượn một số tài sản theo Biên bản xác nhận bảo quản máy ép nhựa và trang thiết bị mà công ty ông Q gửi cho nguyên đơn ngày 05/11/2017 có danh sách tài sản đính kèm là tài sản nguyên đơn cho công ty ông Q mượn. Theo danh sách tài sản đính kèm này nguyên đơn cho công ty ông Q mượn 12 máy (số thứ tự từ 01-12) và trang thiết bị. Trong 12 máy có 02 máy là số tứ tự 8 và 9 là 02 máy trong 08 máy nguyên đơn đang khởi kiện tại vụ án này. Khi nguyên đơn cho công ty ông Q mượn máy thì sau đó công ty ông Q có biên bản này gửi sang cho nguyên đơn nhằm cam kết bảo quản các tài sản nguyên đơn cho mượn nên thời gian nguyên đơn giao cho công ty ông Q mượn tài sản (máy móc) là thời gian trước khi công ty ông Q gửi biên bản này tuy nhiên về ngày tháng cụ thể nguyên đơn không nhớ. Sau khi cho công ty ông Q mượn những tài sản này quá trình đưa vào hoạt động do các máy móc khác không phù hợp nên thời gian sau đó giữa nguyên đơn và công ty ông Q có sự đổi chác lại máy móc (nguyên đơn đổi cho công ty ông Q mượn máy khác) và đến khoảng đầu năm 2018 (không nhớ chính xác là tháng nào) thì nguyên đơn đã cho công ty ông Q mượn 08 bộ máy (là những bộ máy nguyên đơn đang kiện bị đơn hiện nay). Việc nguyên đơn cho công ty ông Q mượn máy thể hiện duy nhất tại tài liệu biên bản xác nhận bảo quản máy ép nhựa và trang thiết bị ngoài ra không có tài liệu nào khác. Việc đổi máy cho mượn giữa hai bên cũng không có tài liệu nào thể hiện vì thời gian đó ông Q là người rất được nguyên đơn tin tưởng nên hai bên không làm giấy tờ gì. Việc mượn máy cũng chỉ có cá nhân ông Q sang đặt vấn đề trực tiếp với lãnh đạo của nguyên đơn không có ai đi cùng ông Q. Về thời gian cho mượn máy vì hai bên tin tưởng nhau nên nguyên đơn cho công ty ông Q mượn máy vô thời hạn. Quá trình cho mượn máy hàng tháng phía nguyên đơn có nhân viên sang công ty ông Q kiểm tra đối với máy móc cho mượn. Việc kiểm tra nguyên đơn sẽ liên hệ điện thoại trực tiếp với ông Q, có lần liên hệ với kế toán của ông Q (bà L1). Nguyên đơn kiểm tra máy và tự ghi chú việc kiểm tra chứ không lập biên bản kiểm tra và không có văn bản nào có xác nhận hay chữ ký chứng kiến của công ty ông Q về việc kiểm tra này. Khoảng tháng 9, tháng 10/2022 ông Q bị tai nạn và sống dạng thực vật tuy nhiên công ty vẫn hoạt động nên nguyên đơn không thu hồi lại máy đã cho mượn. Đầu năm 2023 ông B có sang gặp nguyên đơn trao đổi hiện trạng bênh tật của ông Q kéo dài không ai điều hành công ty T6 không đề cập trực tiếp đến việc mượn máy của nguyên đơn nhưng nguyên đơn cũng có hỏi ông B về tình hình hoạt động của máy móc như thế nào và ông B có nêu quan điểm vẫn muốn tiếp tục hoạt động cùng nguyên đơn và có cam kết làm việc trên nền móng của công ty ông Q. Sau đó tháng 3/2023 ông B thành lập công ty mới là bị đơn bây giờ và tiếp nhận toàn bộ tài sản, nhân sự từ công ty cũ của ông Q. Bà L1 là kế toán cũ của công ty ông Q lại tiếp tục làm kế toán cho công ty ông B. Sau đó nguyên đơn thảo hợp đồng mượn tài sản và chuyển sang cho bị đơn. Ông B có nhờ kế toán (bà L1) kiểm tra nội dung hợp đồng sau đó ký và gửi lại cho nguyên đơn 01 bản (chính là chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án). Nguyên đơn chỉ gửi hợp đồng kèm theo danh sách máy sang cho bị đơn ký còn không giao máy cho bị đơn cũng không sang cùng bị đơn đối chiếu máy móc cho mượn trong danh sách với máy móc trên thực tế vì việc kiểm tra xác định thông tin máy móc là trách nhiệm của ông B, ông B phải biết rõ máy móc đó là máy trước đây nguyên đơn cho công ty ông Q mượn và đến nay cho công ty ông B mượn và việc bàn giao máy là không cần thiết vì máy móc vẫn đang do Bị đơn sử dụng. Khi Nguyên đơn và bị đơn ký kết hợp đồng cho mượn tài sản nguyên đơn không làm thủ tục gì chấm dứt việc cho công ty ông Q mượn tài sản vì kể từ khi nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng mượn tài sản với nhau thì việc nguyên đơn cho công ty ông Q mượn tài sản trước đó sẽ đương nhiên tự chấm dứt. Ông B ký kết hợp đồng mượn tài sản thì phải có trách nhiệm trả lại tài sản cho nguyên đơn và chính ông B đã có công văn yêu cầu nguyên đơn thu hồi lại tài sản cho mượn như vậy thể hiện rõ việc Bị đơn là người chịu trách nhiệm về tài sản đã mượn của nguyên đơn theo hợp đồng ký kết. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Bị đơn phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn 08 bộ máy đã mượn theo hợp đồng cho mượn tài sản YS-HT VINA 2023 ngày 01/4/2023 mà hai bên ký kết; Đề nghị HĐXX buộc Công ty T5 phải trả lại 08 bộ máy cho công ty ông B để công ty ông B trả lại tài sản cho nguyên đơn theo đúng nội dung hợp đồng mượn tài sản.

Bị đơn xác nhận có ký hợp đồng cho mượn tài sản YS-HT VINA 2023 ngày 01/4/2023 với nguyên đơn và tài liệu do nguyên đơn xuất trình là đúng sự thật. Tuy nhiên trên thực tế chỉ là hai bên ký kết trên giấy tờ với nhau còn không hề có việc chuyển giao cho nhau mượn tài sản theo danh sách tài sản thống kê kèm theo hợp đồng. Tài sản máy móc của Bị đơn là do Bị đơn tiếp quản từ công ty ông Q và bị đơn tự sắm thêm một số máy móc của mình để hoạt động. Về tư cách cá nhân- ông B, ông cho biết ông bắt đầu làm việc cho công ty ông Q vào năm 2018 khi vào công ty ông Q có khoảng 20 máy móc trong đó đã có 08 bộ máy mà nguyên đơn đang khởi kiện bị đơn. Ông chỉ là nhân viên làm công việc phụ trách sản xuất của công ty T7 điều hành công ty là do một mình giám đốc (ông Q). Ông Q cũng không nói với ông nguồn gốc các tài sản trong công ty ông ấy cái nào của công ty, cái nào mượn, cái nào thuê... thời gian sau khoảng năm 2019 ông mua thêm 02 máy và năm 2020 ông mua thêm 02 bộ máy để vào cùng hoạt động trong công ty ông Q. Việc gửi máy cùng hoạt động chỉ tự thỏa thuận trao đổi miệng giữa ông với ông Q chứ không có văn bản. Máy móc của công ty ông Q cũng có nhiều biến chuyển vì cũng có những máy công ty bán rồi mua máy khác...Toàn bộ công việc ông chỉ liên quan đến lĩnh vực sản xuất của công ty. Trong quá trình làm việc tại công ty ông Q trước đây, ông B có lần có thấy nhân viên của nguyên đơn sang và nghe nói họ vào kiểm tra máy tuy nhiên ông chỉ biết thông tin vậy chứ ông không đi cùng cũng không biết họ kiểm tra máy gì? Kiểm tra như thế nào? vì đó không phải lĩnh vực công việc của ông. Về tư cách bị đơn: Tài sản mà nguyên đơn kiện đòi Bị đơn không phải là của Bị đơn và cũng không phải tài sản bị đơn được nguyên đơn giao cho mượn. Bị đơn chỉ biết đó là tài sản của Bị đơn tiếp nhận từ công ty của ông Q vẫn để nguyên tại nhà xưởng của công ty ông Q từ trước đến nay. Nguyên đơn nói đó là tài sản công ty ông Q mượn của nguyên đơn và do trước đó khi Bị đơn chưa thành lập thì có nghe thông tin là có máy móc công ty ông Q mượn của nguyên đơn còn có mượn không? mượn máy gì? mượn như thế nào? Hay thuê hay là quan hệ giao dịch gì khác...bị đơn không biết. Khi nghe nguyên đơn nói và chuyển hợp đồng mượn máy sang công ty, đúng là bị đơn có đưa hợp đồng cho chị L1 (kế toán cũ của công ty ông Q và sau đó là kế toán của bị đơn khi bị đơn thành lập để chị L1 xem, chị L1 cũng có nói là đúng nên lúc đó một phần do nguyên đơn là đối tác lớn nhất của bị đơn lúc bấy giờ, một phần do bị đơn nghĩ đơn giản đó không phải là những máy móc mình sắm nên Bị đơn ký cũng là để không ảnh hưởng đến hoạt động giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn. Bị đơn khẳng định 08 bộ máy mà nguyên đơn đang khởi kiện bị đơn không có quyền quyết định. Bị đơn không phải là chủ sử dụng không có quyền định đoạt đối với các tài sản đó. Bị đơn cũng không được nhận các tài sản đó từ nguyên đơn vì bị đơn chỉ biết đó là những tài sản trong số tài sản của công ty ông Q mà bị đơn vẫn đang sử dụng sau khi bị đơn thành lập nên bị đơn không có quyền quyết định trả những tài sản đó cho nguyên đơn. Việc bị đơn sau khi thành lập đã sử dụng tài sản của công ty ông Q là tự bị đơn sử dụng trên thực tế thôi chứ về cơ sở pháp lý bị đơn không hề được ông Q bàn giao, ủy quyền hay có văn bản nhất trí nào của những người thân của ông Q đối với bị đơn về việc cho bị đơn được sử dụng tài sản của công ty ông Q. Ông Q chết, hàng thừa kế của ông Q cũng không hề có văn bản ủy quyền cho bị đơn về quyền tài sản của công ty ông Q nên bị đơn không có quyền quyết định gì đối với các tài sản này. Nguyên đơn cũng xác nhận không giao tài sản cho bị đơn mượn mà những tài sản đó đã giao cho công ty ông Q mượn từ những năm 2017-2018 thì nguyên đơn tự giải quyết để chứng minh về tài sản của mình cho công ty ông Q mượn hay giải quyết với hàng thừa kế của ông Q về tài sản liên quan đến công ty ông Q chứ bị đơn không hề chiếm giữ các tài sản này. Bị đơn không gây khó khăn, không chiếm giữ tài sản của nguyên đơn nhưng nếu chỉ vì ký kết hợp đồng trên giấy tờ (không giao tài sản gì) mà bảo bị đơn phải nhận trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn những tài sản bị đơn không mượn và không được giao nhận thì bị đơn không chấp nhận. Đối với công ty T5 trên thực tế hiện tại bị đơn còn nợ tiền nhà xưởng của công ty T5 là sự thật tuy nhiên Bị đơn nhất trí với quan điểm của công ty T5, quan hệ giữa bị đơn và công ty T5 hai bên tự giải quyết không liên quan đến vụ án này nên không yêu cầu giải quyết;

Người làm chứng là bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Chị cam kết các nội dung đã khai báo trong quá trình Tòa án giải quyết đều đúng sự thật. Chị trình bày bổ sung: Chị làm việc cho công ty ông Q đầu năm 2018 (không nhớ rõ tháng nào). Chị vào làm việc là trước ông B. Chị làm công việc kế toán của công ty phụ trách toàn bộ thu chi, sổ sách, giấy tờ của công ty ông Q, cùng với chị là một nhân viên kế toán phụ trách thuế tuy nhiên về kế toán chị là chính. Khi chị vào làm việc thì máy móc tại công ty ông Q đã có 08 bộ máy mà nguyên đơn đang khởi kiện bị đơn. Công ty ông Q có nhiều loại tài sản (tài sản do công ty mua, tài sản mượn, tài sản người khác gửi để cùng sản xuất). Về 08 bộ máy chị có được ông Q nói miệng cho biết về nguồn gốc 08 bộ máy đó là công ty mượn của nguyên đơn và vì vậy trong máy tính của chị lưu giữ dữ liệu cá nhân chị vẫn ghi về nguồn gốc 08 máy đó là mượn của nguyên đơn. Máy tính này là thông tin lưu trữ cá nhân của chị trong công việc chứ không có tài liệu nào được in ra được xác nhận gì cả. Việc nguồn gốc 08 máy đó mượn của nguyên đơn cũng là ông Q nói miệng cho chị biết chứ trong sổ sách kế toán, các tài liệu lưu trữ của công ty ông Q không có tài liệu nào thể hiện việc nguyên đơn cho công ty ông Q mượn máy. Tháng 10/2022 ông Q bị tai nạn dẫn đến việc sống thực vật. Thời gian sau khi ông Q bị tai nạn không đến công ty được nên nhân viên của nguyên đơn thông báo với chị là họ sang kiểm kê tài sản và dán lại nhãn mác công ty họ vào tài sản và chị cũng đồng ý để họ làm. Thời gian sau đó mọi hoạt động của công ty vẫn được tiếp diễn vì công ty chỉ có mình ông Q là đại diện theo pháp luật ngoài ra không có chức danh nào khác tuy nhiên trước khi bị tai nạn, ông Q có ký sẵn các hóa đơn chứng từ nên về công tác kế toán thu chi hoạch toán của công ty từ sau khi ông Q tai nạn chị vẫn sử dụng các hóa đơn, chứng từ ông Q ký sẵn trước đó rồi tự điền vào để làm hoàn tất các thủ tục kế toán trong hoạt động của công ty. Việc chị làm chị chỉ trao đổi miệng với anh B lúc đó làm ở bộ phận sản xuất chứ chị không được sự ủy quyền của ông Q hay bất kỳ người nào trong gia đình ông Q. Công ty ông Q có thuê trụ sở tại công ty T5 và công ty ông Q thực sự có nợ tiền của công ty T5 nợ tiền thuê xưởng và nợ cả tiền cá nhân nhưng chi tiết khoản nợ bao nhiêu thì hiện chị không nhớ nhưng con số cũng lên đến tiền tỉ. Thời gian ông Q còn khỏe chị có lần gặp nhân viên của nguyên đơn sang công ty ông Q nói kiểm tra máy nhưng chị không đi cùng và cũng không có tài liệu nào thể hiện việc họ kiểm tra máy tại công ty ông Q. Khi anh B thành lập công ty vẫn tiếp quản toàn bộ nhà xưởng, máy móc từ công ty ông Q và vẫn tiếp tục thuê nhà xưởng của công ty T5 và chị chuyển làm kế toán cho công ty A B. Khi nguyên đơn gửi hợp đồng mượn tài sản sang anh B có đưa cho chị xem và vì trước có nghe ông Q nói nên chị có bảo anh B là hợp đồng đúng và anh B ký hợp đồng rồi chuyển sang cho nguyên đơn là đúng sự thật còn máy móc hai bên không bàn giao mà máy vẫn ở tại xưởng từ thời ông Q sử dụng và anh B thành lập công ty tiếp tục sử dụng máy vẫn nguyên như vậy không có việc nguyên đơn thu hồi máy của công ty ông Q. Khi ông Q mất chị có đến gia đình thăm hỏi và sau đó bàn giao lại sổ sách giấy tờ của công ty ông Q cho gia đình ông Q lúc đó là ông T4 (anh trai ông Q) nhận. Sau này quá trình Tòa án làm việc thì chị được biết chị T2 (người chung sống với ông Q trước khi ông Q mất) giữ giấy tờ tài liệu của công ty ông Q nên chị có lấy tài liệu từ chị T2 giao cho chị H1 là nhân viên của nguyên đơn để chị H1 đi phô tô cung cấp cho Tòa án còn bản gốc sau đó chị đã trả lại cho chị T2. Tuy nhiên trong giấy tờ tài liệu lưu trữ tại công ty ông Q chị biết rõ không hề có tài liệu nào thể hiện nguyên đơn cho công ty ông Q mượn máy ngoài tài liệu là Biên bản xác nhận B2 bảo quản xác nhận bảo quản máy ép nhựa và trang thiết bị mà nguyên đơn đã gửi cho Tòa án và cũng không hề có việc nguyên đơn thu hồi tài sản cho ông Q mượn. Đối với việc Công ty T5 trình bày hiện tại công ty ông Q còn nợ tiền họ là đúng, số tiền nợ cụ thể bao nhiêu chị không nhớ rõ nhưng khoản nợ phải lên đến tiền tỉ là sự thật.

Luật sư Vũ Văn N- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với Bị đơn. Khi bị đơn ký kết hợp đồng mượn tài sản với nguyên đơn đã nhận thức được rõ các tài sản đó ông Q mượn của nguyên đơn và nội dung này bị đơn cũng được bà L1 là kế toán cũ của công ty ông Q xác nhận. Bản hợp đồng mượn tài sản bị đơn đã đưa cho bà L1 thời điểm đó là kế toán của bị đơn xem xét và bà L1 khẳng định nội dung là đúng nên bị đơn đã ký hợp đồng. Bị đơn tiếp nhận tài sản từ công ty ông Q, biết được các tài sản đó là của công ty ông Q mượn nguyên đơn nên đã ký hợp đồng như vậy việc bàn giao máy trên thực tế là không cần thiết vì mọi việc đã rõ ràng. Bản thân bị đơn khi ký hợp đồng phải có sự xác minh, làm rõ nguồn gốc của tài sản mới ký mượn tài sản của nguyên đơn. Ông Q hiện tại đã mất, các hàng thừa kế của ông Q từ chối tham gia tố tụng nên đề nghị HĐXX căn cứ theo quy định tại Điều 494 BLDS chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn 08 bộ máy đã mượn theo hợp đồng hai bên đã ký. Đồng thời đề nghị HĐXX buộc công ty T5 phải trả lại các tài sản đó cho bị đơn để bị đơn trả lại cho nguyên đơn.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nhất trí với quan điểm của ông N.

Luật sư Nguyễn Minh Đ-người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn có ý kiến: Bị đơn xác nhận có ký hợp đồng mượn tài sản ngày 01/4/2023 với nguyên đơn là đúng tuy nhiên hợp đồng do nguyên đơn soạn ký sẵn rồi gửi cho bị đơn ký. Hai bên chỉ ký trên giấy tờ còn nguyên đơn không hề giao bất kỳ tài sản nào cho bị đơn mượn. Mặt khác, như nguyên đơn trình bày tại phiên tòa, tài sản nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn lại là tài sản mà nguyên đơn cho công ty ông Q mượn từ năm 2017, hai bên không có hợp đồng mượn máy nhưng công ty ông Q có Biên bản xác nhận bảo quản máy ép nhựa và trang thiết bị trong biên bản có 02 máy là tài sản nguyên đơn đang khởi kiện như vậy xác định hai bên có việc cho nhau mượn máy. Thời gian cho mượn như nguyên đơn trình bày tại phiên tòa là “vô thời hạn”. Tháng 4/2023 nguyên đơn ký kết hợp đồng cho bị đơn mượn (cũng chính các tài sản đã cho công ty ông Q mượn trước đây) thời điểm này công ty ông Q vẫn tồn tại và Công ty ông Q, cá nhân ông Q hay hàng thừa kế của ông Q chưa có văn bản chấm dứt việc mượn tài sản của công ty ông Q với nguyên đơn. Nguyên đơn cũng khẳng định chưa chấm dứt việc cho công ty ông Q mượn tài sản và chưa thu hồi lại tài sản như vậy nguyên đơn chưa làm rõ ràng về quyền tài sản của mình mà lại tiếp tục ký kết hợp đồng cho bị đơn mượn tiếp tài sản đó như vậy thể hiện rõ cùng một tài sản mà nguyên đơn giao tài sản cho công ty ông Q mượn rồi lại ký hợp đồng cho công ty ông B mượn (không có việc giao tài sản) - một tài sản mà cùng cho 02 đối tượng mượn là không đúng pháp luật. Chỉ từ một bản hợp đồng ký kết trên giấy tờ và không bàn giao tài sản cho mượn mà từ đó nguyên đơn cho rằng bị đơn phải có trách nhiệm trả các tài sản (những tài sản mà nguyên đơn không giao cho bị đơn và bị đơn không được nhận từ nguyên đơn) là vô lý. Tài sản nguyên đơn đòi bị đơn là những tài sản bị đơn đang tự tiếp nhận từ tài sản của công ty ông Q mà chưa hề có văn bản ủy quyền hay sự cho phép hợp pháp nào của ông Q hay những thành viên thuộc hàng thừa kế của ông Q nên Bị đơn không phải chủ tài sản, không có quyền định đoạt về những tài sản này và cũng không có trách nhiệm phải làm rõ nguồn gốc những tài sản này. Hiện tại ông Q đã mất việc giải quyết tài sản của công ty ông Q phải do chính các thành viên trong hàng thừa kế của ông Q quyết định chứ Bị đơn không có quyền quyết định tài sản của công ty ông Q. Việc chị L1 xem và nói hợp đồng đúng chị L1 cũng chỉ trình bày trước đây nghe ông Q nói nên nói vậy chứ không hề có tài liệu nào chứng minh việc giữa nguyên đơn và công ty ông Q có cho thuê, mượn hay bất kỳ giao dịch gì liên quan đến 08 bộ máy đó hay không. Ông B trước đây biết nguyên đơn có nhân viên sang công ty ông Q nói kiểm tra máy nhưng ông B không có mặt khi kiểm tra máy nên cũng không biết họ kiểm tra máy nào? Nội dung kiểm tra là gì? Như vậy, việc nguyên đơn nói ông B khi ký hợp đồng phải nhận thức rõ 08 bộ máy này trước đây là nguyên đơn cho ông Q mượn là không có căn cứ. Nguyên đơn ký Hợp đồng cho Bị đơn mượn tài sản nhưng trên thực tế không giao tài sản cho mượn rồi giờ lại quy buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả lại những tài sản đó thì bị đơn lấy tài sản đâu mà trả. Bị đơn giữ nguyên quan điểm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sựViệc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn, công ty T5 đều đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình làm việc. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Q vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử là không chấp hành đúng quy định pháp luật ;

Về quan điểm vụ án: Quá trình giải quyết, Nguyên đơn đã chứng minh được nguồn gốc 08 bộ máy là tài sản của nguyên đơn. Nguyên đơn cũng xác nhận các tài sản này đã cho Công ty ông Q mượn từ năm 2017-2018, việc mượn và cho mượn máy là vô thời hạn và không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh hai bên cho mượn máy. Ông B trước đây là nhân viên của công ty ông Q có nghe nói công ty ông Q có máy mượn của nguyên đơn nhưng không biết là máy nào? Bà L1 là kế toán của công ty ông Q xác nhận có nghe ông Q nói 08 máy ép nhựa tại công ty ông Q là mượn của nguyên đơn còn trong sổ sách, tài liệu của công ty không có tài liệu nào thể hiện việc nguyên đơn cho công ty ông Q mượn tài sản. Khi ông B thành lập công ty (Bị đơn) đã tiếp quản toàn bộ tài sản của công ty ông Q. Khi nguyên đơn chuyển hợp đồng mượn tài sản sang cho bị đơn, bị đơn đã đưa hợp đồng cho bà L1 thời điểm đó đã tiếp tục làm kế toán cho bị đơn và do bà L1 xác nhận nội dung hợp đồng đúng nên bị đơn đã ký hợp đồng. Ngoài ra, bị đơn có biết việc nguyên đơn cho người sang kiểm tra máy, bị đơn lại là phụ trách sản xuất nên cũng phải kiểm tra hoạt động của máy móc như vậy Bị đơn đã nhận thức rõ được 08 bộ máy là của nguyên đơn cho công ty ông Q mượn nên mới ký hợp đồng mượn tài sản. Bị đơn đã đọc hiểu rõ nội dung hợp đồng và ký nhận nên phải có trách nhiệm đối với sự ký kết của mình nên ngày 15/9/2023 bị đơn đã có công văn thông báo yêu cầu nguyên đơn thu hồi lại tài sản cho mượn;

Từ nội dung đó, đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 30, 35, 39, 147 BLTTDS; Các Điều 494, 495, 496, 497, 498, 499 BLDS. Nghị quyết 326 của U; Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn là Công ty TNHH N1 phải trả cho Công ty TNHH V1 bộ máy ép nhựa theo danh sách kèm theo hợp đồng mượn tài sản số YS-HT VINA 2023, được ký kết ngày 01/4/2023 giữa 02 Công ty.

Về án phí, chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu án phí KDTMST theo quy định pháp luật.

Với nội dung trên tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/KDTMST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Căn cứ Điều 30, 39, 147; 227, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sựCác Điều 494, 496, 497, 498, 499 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14gày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

[1] Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V1 về việc “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản” đối với Công ty TNHH N1;

[2] Về án phí, chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải nộp 48.000.000đ án phí KDTMST (được đối trừ với số tiền 24.000.000đ tạm ứng án phí đã tạm nộp tại biên lai số 0001259 ngày 15/01/20024 tại chi cục THADS huyện T).

Chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tài sản là 5.000.000đ (xác nhận nguyên đơn đã nộp đủ số tiền này).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo qui định của pháp luật

Sau khi án sơ thẩm xử song ngày 24/9/2024, nguyên đơn là Công ty TNHH V1 có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm khi xem xét giải quyết vụ án chưa xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện các chứng cứ tài liệu, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả 08 bộ máy ép nhựa đã mượn theo hợp đồng mượn tài sản ký ngày 01/4/2023 và Công văn đề nghị số: 010923/HT ngày 15/9/2023 của Công ty TNHH N1 gửi cho công ty TNHH V1 đề nghị thu hồi tài sản cho mượn đã xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn. Nguyên đơn đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn là công ty TNHH N1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (đang trực tiếp nắm giữ tài sản mượn) là công ty T5 phải bàn giao trả cho Công ty TNHH V1 bộ máy ép nhựa.

Tiếp đến ngày 25/9/2024 VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh có Quyết định kháng nghị số: 02/QĐ- VKSTD- KDTM kháng nghị toàn bộ Bản án KDTM sơ thẩm số: 08/2014/DTTMST, ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V1, buộc công ty N1 phải bàn giao trả lại cho Công ty TNHH V1 bộ máy ép nhựa theo hợp đồng cho mượn tài sản ký ngày 01/4/2023.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện và nội dung đơn kháng cáo đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn là công ty TNHH N1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là công ty T5 phải liên đới bàn giao trả cho guyên đơn 08 bộ máy ép nhựa hiện đang nằm tại kho và nhà xưởng do Công ty N1 thuê của Công ty T5 có địa chỉ tại Lô C đường N KCN Đại Đồng H, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Với căn cứ chứng minh 08 bộ máy ép nhựa hiện đang nằm tại kho, và nhà xưởng do công ty TNHH N1 thuê của Công ty T5 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của nguyên đơn, quá trình sử dụng ban đầu nguyên đơn cho Công ty TNHH Q1 sử dụng, sau khi ông Q chủ sở hữu của Công ty TNHH Q1 chết, ông B là nhân viên của ông Q thành lập Công ty TNHH N1 và tiếp quản lại toàn bộ máy, móc trang thiết bị cũng như trụ sở do Công ty Q1 để lại đã tiếp tục sử dụng 08 bộ máy ép do nguyên đơn đã cho Công ty TNHH Q1 và bản thân ông B là người cũng biết 08 bộ máy ép do công ty ông tiếp quản trong số các máy móc trang thiết bị mà công ty ông tiếp quản lại từ công ty ông Q là của nguyên đơn cho công ty ông Q mượn chính vì vậy sau khi Công ty TNHH N1 tiếp quản lại hai bên mới có việc ký kết hợp đồng cho mượn tài sản.

Đại diện bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn không đồng ý đơn kháng cáo của nguyên đơn và quyết định kháng nghị của VKSND huyện Tiên Du đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm với căn cứ trình bày: Ngày 01/4/2023 Công ty N1 và Công ty TNHH V1 có việc ký kết với nhau hợp đồng mượn 08 bộ máy ép nhựa, tuy nhiên trên thực tế giữa hai bên không có việc bàn giao tài sản cho mượn, do không có việc bàn giao thực tế tài sản cho mượn nên bên cho mượn là Công ty TNHH V1 đòi Công ty TNHH N1 phải bàn giao trả tài sản mượn là 08 bộ máy ép nhựa mà hiện nay đang nằm tại kho và xưởng do công ty TNHH N1 thuê của Công ty T5 là không có căn cứ. 08 bộ máy ép nhựa đặt tại nhà xưởng của Công ty T5 có dán tem của công ty V1 có nguồn gốc do Công ty TNHH N1 tiếp quản và sử dụng lại từ Công ty TNHH Q1 do ông Q làm chủ trước đây để lại, đây không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty N1. Còn có phải là tài sản của Công ty ông Q hay của Công ty V1 hay không thì ông không nắm được.

Bà L1 trình bày: Bà nguyên là kế toán của Công ty TNHH Q1 do ông Q làm chủ sở hữu có trụ sở thuê tại nhà xưởng của Công ty T5 do ông S làm chủ. Sau khi ông Q bị tai nạn và chết, hoạt động của Công ty Q1 bị đình chệ, do hoạt động của công ty Q1 bị đình chệ nên vào tháng 3/2023 ông B nguyên là cán bộ quản lý của Công ty TNHH Q1 làm thủ tục thành lập Công ty TNHH N1. Sau khi ông B thành lập công ty N1 thì toàn bộ nhà xưởng, trụ sở,máy móc trang thiết bị cũng như lao động của Công ty TNHH Q1 để lại trên đất thuê của công ty TNHH T5 được ông B tiếp tục kế thừa, sử dụng và bản thân bà L1 cũng chuyển sang ký kết hợp đồng lao động làm việc cho công ty ông B. Trong thời gian bà làm kế toán cho công ty ông Q hay sau này làm kế toán cho công ty ông B bà biết khi ông Q còn sống công ty ông Q có mượn 08 bộ máy ép nhựa của Công ty TNHH V1 và sau khi ông B thành lập Công ty N1 08 máy ép nhựa này được chuyển giao sang cho công ty ông B tiếp tục sử dụng. Trong thời gian bà làm việc tại Công ty hàng tháng công ty TNHH V1 vẫn cử cán bộ nhân viên sang kiểm tra, dán tem tài sản cho mượn, bà L1 khẳng định theo các sổ sách kế toán theo dõi về tài sản của công ty ông Q hay sổ sách kế toán theo dõi về tài sản cố định của công ty ông B đều không có thể hiện 08 bộ máy ép nhựa mà hiện nay đang nằm tại kho và xưởng của công ty T5 là tài sản của công ty ông Q hay công ty ông B.

Cũng tại phiên tòa sau khi xem xét đánh giá việc chấp hành và thựa hiện pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng về nội dung đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh giữ nguyên quyết định kháng nghị số 02 ngày 25/9/20124 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của VKSND huyện Tiên Du sửa bản án KDTM sơ thẩm số 08/2024/KDTMST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty TNHH N1 phải bàn giao trả lại cho Công ty TNHH V1 bộ máy ép nhựa đã mượn theo Hợp đồng mượn tài sản ký ngày 01/4/2023. Buộc công ty T5 phải bàn giao cho Công ty TNHH N1 bộ máy ép nhựa mà hiện nay đang chiếm giữ để công ty TNHH N1 trả cho công ty TNHH V1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện, công ty TNHH V1 yêu cầu công ty TNHH N1 phải bàn giao trả lại 08 bộ máy ép nhựa đã mượn theo Hợp đồng cho mượn tài sản được ký kết ngày 01/4/2023. Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án hợp đồng cho mượn tài sản được ký kết giữa 02 công ty và Công văn số: 010923/HT ngày 15/9/2023 của bên mượn tài sản là công ty TNHH N1 gửi cho Công ty TNHH V1 (bên cho mượn) với nội dung để nghị thu hồi tài sản cho mượn trước ngày 15/10/2023 để công ty tiến hành dừng hoạt động sản xuất kinh doanh. Căn cứ nội dung đơn khởi kiện và các chứng cứ gửi kèm đơn khởi kiện của nguyên đơn thấy, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh sau khi xem xét chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, đối tượng giao kết hợp đồng, mục đích giao kết hợp đồng, nguyên nhân xảy ra tranh chấp đã xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là tranh chấp KDTM và cụ thể là "Tranh chấp hợp đồng cho mượn tài sản" và thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ được qui định các Điều 30, 35, và 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi trực tiếp liên quan đến nội dung đơn khởi kiện và nội dung đơn kháng cáo là Công ty TNHH T5 do ông Nguyễn Đức S1 đại diện đã được Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập tham gia phiên tòa, song ông S1 có đơn xin vắng mặt, căn cứ Điều 296 của BLTTDS hội đồng tiến hành xét xử vụ án vắng mặt của người đại diện cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là công ty TNHH T5.

[3] Xét tính hợp pháp của đơn kháng cáo của Công ty TNHH V1 và Quyết định kháng nghị số 02 ngày 25/9/2024 của VKSND huyện Tiên Du thấy: Ngày 11/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Tiên Du mở phiên tòa xét xử và ra bản án KDTM sơ thẩm, sau khi án sơ thẩm xử xong vào ngày 24/9/2024 nguyên đơn là Công ty TNHH V1 có đơn kháng cáo, tiếp đến ngày 25/9/2024 VKSND huyện Tiên Du có quyết định kháng nghị số 02. Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn và Quyết định kháng nghị của VKSND huyện Tiên Du được làm đúng thẩm quyền kháng cáo và đúng thẩm quyền kháng nghị, thời hạn kháng cáo và thời hạn kháng nghị được làm và ban hành trong thời hạn luật định, phù hợp với qui định tại các Điều 271, 272, 273 và Điều 280 của BLTTDS, nên kháng cáo kháng nghị là hợp pháp để được chấp nhận để xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[4] Xét nội dung, quyết định của bản án sơ thẩm cũng như nội dung kháng cáo của nguyên đơn và nội dung kháng của VKSND huyên Tiên Du thấy: Nội dung kháng cáo và nội dung kháng nghị đều thống nhất cho rằng: Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2024/KDTM-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh bác đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn là công ty TNHH N1 phải bàn giao trả lại tài sản mượn là 08 bộ máy ép nhựa cho nguyên đơn là Công ty TNHH V1 theo hợp đồng mượn tài sản được 2 bên ký kết ngày 01/4/2023 là không đúng với các tình tiết khách quan của vụ án và không đúng pháp luật, cả kháng cáo và quyết định kháng nghị đều đề nghị sửa bản án sơ thẩm, buộc bên mượn là công ty TNHH N1 phải bàn giao trả lại tài sản mượn cho bên cho mượn là công ty TNHH V1.

Sau khi xem xét toàn diện các chứng được thu thập có trong hồ sơ vụ án thấy:

Quá trình tố tụng đại diện nguyên đơn và đại diện bị đơn đều thống nhất thừa nhận ngày 01/4/2024 giữa các bên có thỏa thuận ký với mua hợp đồng mượn tài sản YS-HT Vina 2023 và đều thống nhất thừa nhận ngày 15/9/2023 bên mượn là công ty TNHH N1 có văn bản số 010923 gửi cho bên cho mượn là công ty TNHH V1 với nội dung đề nghị bên cho mượn thu hồi máy theo hợp đồng cho mượn tài sản ký ngày 01/4/2023 trước ngày 15/10/2023. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của BLTTDS về chứng cứ chứng minh thì có đủ cơ sở xác định việc ký kết hợp đồng mượn tài sản là máy móc, thiết bị giữa các bên là có thực.

Xét nội dung thỏa thuận tại hợp đồng mượn tài sản được ký ngày 01/4/2023 giữa các bên thì thấy: Theo hợp đồng, Công ty TNHH V1 (bên cho mượn) cho Công ty TNHH N1 (bên mượn) mượn tài sản là máy móc, thiết bị thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình là 08 Máy đúc nhựa BMK 120T; 08 Robot Borute; 16 Bình sấy nhựa để bên mượn phục vụ cho hoạt động gia công sản xuất các mặt hàng nhựa (hiện 08 bộ máy đúc đùn nhựa đang được lưu giữ tại kho và nhà xưởng của Công ty TNHH T5 là địa điểm công ty TNHH N1 thuê.

Xét căn cứ xác lập quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản thuê là 08 máy ép nhựa đang do công ty TNHH N1 quản lý nằm tại Kho và nhà xưởng do Công ty N1 thuê của Công ty T5 có địa chỉ tại Lô C đường N KCN Đại Đồng H, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh theo nội dung Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tài chỗ do Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện ngày 25/7/2024 thấy: Tại kho số 3 của công ty T5 có đặt 07 máy ép nhựa sát nhau (03 máy còn tem BMK; 04 máy đã bong tem). Trên 07 máy này đều có dán tem có “Tên công ty: Công ty TNHH V1” các tem dán trên 07 máy ở vị trí khác nhau; Tại khu nhà xưởng của Công ty T5 có 01 bộ máy ép nhựa (máy không còn tem BMK) và trên máy cũng có dán tem có “Tên Công ty TNHH V1”. Quá trình tố tụng bản thân ông B đại diện cho Công ty TNHH N1 cũng như bà L1 nguyên là kế toán Công ty TNHH Q1 và sau này là kế toán cho công ty TNHH N1 đều trình bày: Trong số máy móc, thiết bị của Công ty TNHH Q1 chuyển giao sang cho Công ty TNHH N1 sử dụng để tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi ông Q là người đại diện của công ty TNHH Q1 bị tai nạn, có một số máy móc, thiết bị do Công ty TNHH Q1 mua, một số máy, thiết bị do ông B gửi, ngoài ra còn có một số máy móc, thiết bị do Công ty TNHH Q1 của Công ty TNHH V1. Số máy móc, thiết bị Công ty TNHH Q1 của Công ty TNHH V1 đều dán tem của Công ty TNHH V1 để phân biệt, khi ông Q còn sống hàng tháng bên cho mượn là Công ty TNHH V1 vẫn cử nhân viên sang kiểm tra tài sản là máy móc, thiết bị cho mượn. Song theo ông B đại diện Công ty TNHH N1 trình bày, lý do ngày 01/4/2023 ông đại diện cho Công ty TNHH N1 ký hợp đồng mượn máy của Công ty TNHH V1 vì khi ông còn làm nhân viên của Công ty TNHH Q1 do ông Q làm chủ ông chỉ nghe ông Q nói "Công ty ông Q có mượn của Công ty TNHH V1 một số máy, thiết bị để sản xuất trong đó có một số máy đùn ép nhựa", do công ty ông thành lập là đơn vị tiếp quản lại, trụ sở, cơ sở vật chất cùng máy móc, thiết bị từ Công ty TNHH Q1 nên ông mới ký hợp đồng mượn máy với Công ty TNHH V1, còn thực tế khi ký hợp đồng 02 bên không có việc bàn giao tài sản cho mượn và điều này cũng đã được phía đại diện nguyên đơn thừa nhận trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án.

Nhận thấy, khi ký kết hợp đồng mượn tài sản giữa các bên không có việc giao nhận tài sản mượn là 08 bộ máy ép nhựa, song theo các chứng cứ, tài liệu thể hiện, trước khi công ty TNHH V1 và Công ty N1 ký hợp đồng mượn tài sản, số máy móc thiết bị các bên thỏa thuận tại hợp đồng mượn tài sản đã được bên cho mượn là Công ty TNHH V1 bàn giao cho Công ty TNHH Q1 là doanh nghiệp do ông Q thành lập và đứng tên chủ sở hữu, đồng thời cũng là doanh nghiệp nơi ông B đã làm việc mượn sử dụng trước đó, với vai trò là người quản lý mượn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, bản thân ông B sau khi thành lập Công ty TNHH N1 và tiếp quản lại nhà xưởng, máy móc thiết bị, cơ sở vật chất từ Công ty TNHH Q1 ông B đã biết trong số các máy móc thiết bị Công ty ông tiếp quản từ Công ty TNHH Q1 có 08 máy ép nhựa không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH Q1 mà là tài sản do Công ty Q1 của Công ty TNHH V1 chính vì lẽ đó sau khi ông thành lập doanh nghiệp và tiếp quản lại nhà xưởng, cơ sơ vật chất, máy móc, thiết bị từ Công ty TNHH Q1 với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bên mượn tài sản là ông B đại diện cho công ty của mình ký hợp đồng với bên cho mượn là Công ty TNHH V1 tiếp tục mượn 08 bộ máy ép nhựa có dán tem của Công ty TNHH V1 mà trước đây bên cho mượn là Công ty TNHH V1 đã cho công ty TNHH Q1 nằm trong số tài sản Công ty ông nhận lại để sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng khi ký kết hợp đồng mượn tài sản giữa 2 bên không có việc bàn giao tài sản cho mượn để từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi tài sản của nguyên đơn là chưa xem xét, đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ bản chất, nguồn gốc, quá trình sử dụng của 08 bộ máy ép nhựa mà hiện nay đang nằm tại kho và nhà xưởng của Công ty T5.

Xét tính hợp pháp của tài sản kiện đòi, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo các giấy tờ tài liệu, sổ sách kế toán của Công ty TNHH Q1 và của Công ty TNHH N1 đều không thể hiện 08 bộ máy ép nhựa theo biên bản kiểm tra tại chỗ do Toà án cấp sơ thẩm thực hiện, đang nằm tại kho và xưởng của Công ty T5 TNHH mà nguyên đơn kiện đòi không phải là tài sản hợp pháp thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH Q1 hay là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH N1. Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp như: Hồ Sơ kê khai hàng hóa xuất nhập, khẩu, sổ sách kế toán, sổ theo dõi tài sản cố định từ năm 2027 đến nay đều xác định 08 máy ép nhựa mang nhãn hiệu BMK- H120TC được Công ty TNHH V1 hạch toán và theo dõi là tài sản cố định của Công ty V1 nên đủ cơ sở khẳng định 08 bộ máy ép nhựa mang nhãn hiệu BMK- H120TC đang nằm tại kho và xưởng do Công ty TNHH N1 thuê của Công ty T5 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH V1.

Xét quá trình thực hiện hợp đồng mượn tài sản ngày 01/4/2024 giữa bên cho mượn là Công ty TNHH V1 với bên mượn là Công ty TNHH N1 thấy: Tại Điều 2 và Điều 3 của hợp đồng các bên thống nhất trong thời gian thực hiện hợp đồng bên cho mượn có quyền lấy lại tài sản mượn cho dù bên mượn chưa đạt được mục đích mượn, nhưng trước khi lấy lại tài sản mượn phải thông báo cho bên mượn trước 30 ngày. Quá trình khai thác sử dụng tài sản mượn do tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của bên mượn là Công ty TNHH N1 không hiệu quả nên ngày 15/9/2024 bên mượn là Công ty TNHH N1 đã có văn bản số: 010923/HT gửi bên cho mượn là Công ty TNHH V1 đề nghị Công Ty TNHH V1 thu hồi tài sản mượn trước ngày 15/10/2023, nhưng khi nguyên đơn tiến hành thu hồi tài sản cho mượn lại gặp phải sự cản trở không bàn giao tài sản mượn của bên mượn và Công ty T5.

Theo các tài liệu chứng cứ thể hiện, 08 bộ máy ép nhựa nguyên đơn yêu cầu bị đơn là Công ty TNHH N1 bàn giao trả lại theo hợp đồng mượn ngày 01/4/2023 đang do Công ty T5 TNHH quản lý và được đặt tại kho và xưởng của Công ty T5, Công ty T5 không bàn giao trả lại tài sản mà giữ lại tài sản là do quá trình sản xuất kinh doanh Công ty TNHH Q1 và cá nhân ông Nguyễn Quang S2 còn nợ tiền thuê nhà xưởng và nợ tiền vay của Công ty T5 nên Công ty T5 giữ lại tài sản để đảm bảo việc thanh toán. Xét quan hệ vay mượn cũng như quan hệ thuê, mướn địa điểm sản xuất kinh doanh giữa Công ty T5 với Công ty TNHH Q1 hay Công ty TNHH N1, thấy quan hệ vay mượn và quan hệ thuê mướn địa điểm sản xuất kinh doanh, giữa các bên không không có liên quan gì đến nội dung khởi kiện của nguyên đơn việc Công ty T5 tự ý giữ lại tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH V1 là trái phát luật.

Từ những phân tích và nhận định trên thấy: Ngày 01/4/2023 giữa Công ty TNHH V1 và Công Ty TNHH N1 có ký kết hợp đồng cho thuê tài sản, theo hợp đồng Công ty TNHH V1 cho Công ty N1 mượn tài sản là 08 bộ máy ép nhựa mang nhãn hiệu BMK- H120TC là có thực, việc bàn giao tài sản cho mượn là 08 bộ máy đùn ép nhựa mang nhãn hiệu BMK- H120TC thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH V1 sang cho bên mượn là Công ty TNHH N1 là có thực. Quá trình thực hiện hợp đồng do bên mượn không còn nhu cầu khai thác, sử dụng tài sản đã mượn nên ngày 15/9/2023 bên mượn là Công ty TNHH N1 đã có văn bản gửi cho bên cho mượn đề nghị bên cho mượn thu hồi tài sản cho mượn. Tuy nhiên sau khi có văn bản đề nghị thu hồi tài sản cho mượn bên mượn là Công ty TNHH N1 lại không phối hợp và còn viện ra nhiều lý do để không bàn giao trả lại tài sản đã mượn. Việc không bàn giao trả lại tài sản mượn của bên mượn là không thực hiện đúng thỏa thuận tại hợp đồng mượn và không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên mượn tài sản về việc "Trả lại tài sản mượn cho bên cho mượn sau khi không còn nhu cầu sử dụng" được quy định tại Điều 496 của BLDS. Do vậy cần chấp nhận đơn kháng cáo và Quyết định kháng nghị của VKSND huyện Tiên Du, sửa bản án KDTM sơ thẩm số: 08/2024/KDTM-ST, ngày 11/9/2024 của TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, buộc Công ty TNHH N1 với tư cách là bên mượn và sử dụng tài sản mượn và Công ty T5 là người đang trực tiếp chiếm giữ tài sản mượn phải có trách nhiệm bàn giao trả cho bên cho mượn là Công ty TNHH V1 bộ máy ép nhựa mang nhãn hiệu BMK- H120TC hiện đang nằm tại kho và xưởng của Công ty T5.

[5] Về án phí, chi phí tố tụng sơ thẩm và phúc thẩm: Do yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là Công ty TNHH N1 phải chịu án phí KDTMST và chi phí xem xét thẩm định tài sản theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ tài sản cho mượn và đã ứng nộp số tiền chi phí xem xét thẩm định hết 5.000.000đ, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả tiền chi phí thẩm định xét thấy là phù hợp cần chấp nhận, buộc bị đơn là Công ty TNHH N1 phải có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chi phí thẩm định là 5.000.000đ.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn là Công ty TNHH V1 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Hoàn trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Chi cục THADS huyện T cho Công ty TNHH V1.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của BLTTDS; Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH V1 và Quyết định kháng nghị số: 02/QĐ- VKS- KDTM ngày 25/9/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2024/KDTM-ST, ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Áp dụng Điều 30, 39, 147; 227, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sựCác Điều 494, 496, 497, 498, 499 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14gày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V1.

1. Buộc Công ty TNHH N1 và Công ty T5 phải có trách nhiệm phối hợp, liên đới bàn giao trả lại cho Công ty TNHH V1 bộ máy ép nhựa mang nhãn hiệu BMK- H120TC hiện đang đặt tại kho, xưởng của Công ty T5, theo hợp đồng cho mượn tài sản ký ngày 01/4/2023;

2. Về án phí KDTMST và chi phí tố tụng: Công ty TNHH N1 phải chịu 48.000.000đ tiền án phí KDTM sơ thẩm và phải có nghĩa vụ thanh toán trả lại cho Công ty TNHH V1 số tiền chi phí xem xét thẩm định tài sản đã tạm ứng là 5.000.000₫

3. Về án phí KDTM Phúc thẩm: Công ty TNHH V1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ty Công ty TNHH V1 số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số: 0001259 ngày 15/01/20024 và số: 0001557 ngày 27/9/2024 của chi cục THADS huyện T, tỉnh Bắc Ninh).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tính Hoàng Ngọc Sơn

Đỗ Thế Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/KDTM-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng mượn tài sản

  • Số bản án: 13/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản giữa Công ty TNHH Vina Yong Seong và Công ty TNHH Nhựa Hưng Thịnh Vina
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger