Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HSST

Ngày 26 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Thanh Hoàng; ông Nguyễn Lâm Tới

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên, cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Phạm Tuấn A, sinh ngày 06/11/1999, nơi sinh tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: tổ B, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị H; Tiền án, tiền sự: không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, bị cáo có mặt.

2. Trần Văn Đ, sinh ngày 20/11/2000, nơi sinh tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: tổ E, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc T; Tiền án, tiền sự: không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, bị cáo có mặt.

3. Trần Văn Q (tên gọi khác Cà S), sinh ngày 26/5/2003, nơi sinh tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: tổ H, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Mai Thị Cẩm T2; Tiền án, tiền sự: không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1970; nơi cư trú: tổ E, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt;

- Người làm chứng: ông Trần Văn C, sinh năm 1987, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 02/9/2024, sau khi nhận được tin báo Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma tuý Công an thị xã T phối hợp với Công an phường N tiến hành kiểm tra nhà của Trần Văn Đ thuộc khu vực tổ E, khóm T, phường N, thị xã T, thì thấy tại khu vực nhà bếp có Đ, Phạm Tuấn A và Trần Văn Q đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, còn Mai Văn N nhảy xuống sàn nhà bỏ chạy tẩu thoát. Tại đây, Lực lượng Công an phát hiện 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khoá viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma tuý); 01 bình hút tự chế bằng chai nhựa màu xanh, có gắn nắp đậy bằng nhựa màu đỏ, bên ngoài có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng cùng 01 nỏ thuỷ tinh, bên trong có 01 ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng (bên trong bình không còn chất nghi vấn là ma tuý) và 01 hột quẹt gas màu đỏ được để bên trong hộp giấy. Nên, Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tuấn A, Đ, Q và thu giữ vật chứng.

Quá trình điều tra xác định:

Tuấn A, Q, Đ và N thường xuyên (từ 01 đến 03 ngày) hùn tiền mỗi người từ 50.000 đồng đến 150.000 đồng mua ma tuý sử dụng chung tại nhà của Đ. Khoảng 18 giờ ngày 02/9/2024, Tuấn A điều khiển xe môtô biển số 67F1 – 638.37 đến nhà của Đ, Tuấn A rủ Đ, Q và N hùn tiền mua ma tuý để sử dụng, được Q và N đồng ý, do Đ bị bệnh nên không hùn tiền mua ma túy sử dụng, nhưng Đ đồng ý cho Tuấn A, Q, N sử dụng ma túy tại nhà và dùng bình hút tự chế của Đ để sử dụng ma túy. Trước đó, Q chuyển 100.000 đồng từ ứng dụng Momo cho Tuấn A để hùn tiền mua ma tuý sử dụng, còn N khi nào có tiền trả lại cho Tuấn A, rồi Tuấn A điều khiển xe 67F1 – 638.37 đến khu vực thành phố C mua ma tuý của một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 400.000 đồng.

Mua ma túy xong, Tuấn A mang bọc nilon chứa ma tuý về nhà của Đ đưa cho N (số ma túy này sử dụng hết trong ngày), N lấy một ít ma tuý để vào ống nỏ thuỷ tinh được gắn trên bình hút tự chế của Đ, số ma túy còn lại N cất giấu vào bên trong hộp giấy, rồi N, Tuấn A và Q luân phiên nhau sử dụng ma tuý, do Đ bị bệnh không sử dụng ma tuý. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, thì Lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang đối với Tuấn A, Đ và Q tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nội dung vụ án, còn N bỏ chạy tẩu thoát.

Vật chứng thu giữ (theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 02/9/2024), gồm: 01 (một) bọc nilong trong suốt có rãnh khoá viền màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma tuý); 01 (một) hột quẹt gas, màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) hột quẹt gas, màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) bình hút tự chế bằng chai nhựa màu xanh, có gắn nắp đậy bằng nhựa màu đỏ, bên ngoài có gắn 01 ông hút nhựa màu đỏ sọc trắng (bên trong bình không còn chất, nghi vấn là ma tuý); 01 (một) hộp giấy, kích thước ( 27 x 19,9 x 12cm), đã qua sử dụng; 03 (ba) bọc nilong trong suốt có rãnh khoá viền màu đỏ, kích thước (4,5 x 7,5 cm), đã qua sử dụng; 01 (một) bọc nilong trong suốt có rãnh khoá viền màu đỏ, kích thước (05 x 09cm), đã qua sử dụng; 16 (mười sáu) bọc nilong trong suốt có rãnh khoá viền màu đỏ, kích thước (3,5 6,8 cm), đã qua sử dụng; 01 (một) nỏ thuỷ tinh, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp nhựa, màu xanh, kích thước (9,5 x 5,8 cm); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số loại YO02, màu xanh, IMEI 1: 869949061274344, IMEI 2: 869949061274351, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển số 67F1 – 638.37; 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu SAMSUNG, số loại: Galaxy A12, màu xanh.

* Bản kết luận giám định số 1266/KL-KTHS ngày 07/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3090 gam.

* Bản kết luận giám định số 1267/KL-KTHS ngày 02/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M1, M2, M3 gửi đến giám định có tìm thấy thành phần chất ma tuý, loại Methamphetamine, đã sử dụng hết sau khi giám định.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSTB ngày 23 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên đã truy tố các bị cáo Phạm Tuấn A, Trần Văn Đ, Trần Văn Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt Bộ luật Hình sự).

Tại Cơ quan điều tra,

- Các bị cáo Phạm Tuấn A, Trần Văn Đ và Trần Văn Q đã khai nhận hành vi như đã nêu; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng khẳng định tình tiết vụ án đúng như bị cáo khai nhận.

Tại phiên tòa,

- Các bị cáo Phạm Tuấn A, Trần Văn Đ và Trần Văn Q thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; Trần Văn Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Trần Văn Q (C) từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Phạm Tuấn A 01 (một) xe mô tô biển số 67F1 – 638.37. Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số loại YO02, màu xanh; 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu SAMSUNG, số loại: Galaxy A12, màu xanh. Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 1266/KL-KTHS ngày 07/9/2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H2, Lê Vũ P, bên trong có các mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng: 0,2557g; 02 (hai) hộp quẹt gas; 01 (một) bình hút tự chế; 01 (một) hộp giấy; 20 (hai mươi) bọc nilong; 01 (một) nỏ thuỷ tinh; 01 (một) hộp nhựa.

- Các bị cáo không có tranh luận và bào chữa, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Vấn đề khác:

Đối với Mai Văn N không có mặt ở địa phương, nên chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau; Người thanh niên bán ma túy cho Tuấn A, do chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, nên chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau; đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T (mẹ của Đ) không biết việc Đ, Tuấn A, Q và N tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm đối với bà T là có căn cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về sự vắng mặt của người làm chứng, trong quá trình điều tra đã có lời khai và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, động cơ, mục đích và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 21 giờ ngày 02/9/2024, tại nhà của Trần Văn Đ thuộc tổ E, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang, các bị cáo Phạm Tuấn A, Trần Văn Đ và Trần Văn Q (C) đã có hành vi người cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của các bị cáo, mà qua kết luận giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,3090g (không phẩy ba không chín không gam).

Vì vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Tuấn A, Trần Văn Đ, Trần Văn Q (C) có đầy đủ dấu hiệu của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3] Hành vi phạm tội

của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy. Mà ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng, là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự khác, tạo nên sự bất ổn cho an ninh trật tự xã hội.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, không có sự phân công, phân hoá vai trò. Tuy nhiên, bị cáo Phạm Tuấn A là người khởi sướng, thực hành, nên chịu trách nhiệm chính trong vai trò đồng phạm. Các bị cáo Trần Văn Đ là người tổ chức địa điểm, chuẩn bị dụng cụ và Trần Văn Q là người hùn tiền nên cũng chịu trách nhiệm là người giúp sức tích cực trong vai trò đồng phạm.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện, đã cố ý mua ma túy để tổ chức sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Do đó, các bị cáo phải chịu chế tài hình sự nghiêm khắc tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo Phạm Tuấn A, Trần Văn Đ, Trần Văn Q đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo Phạm Tuấn A 01 (một) xe mô tô biển số 67F1 – 638.37. Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số loại YO02, màu xanh; 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu SAMSUNG, số loại: Galaxy A12, màu xanh. Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 1266/KL-KTHS ngày 07/9/2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H2, Lê Vũ P, bên trong có các mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng: 0,2557g; 02 (hai) hộp quẹt gas; 01 (một) bình hút tự chế; 01 (một) hộp giấy; 20 (hai mươi) bọc nilong; 01 (một) nỏ thuỷ tinh; 01 (một) hộp nhựa.

[7] Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[8] Vấn đề khác:

Đối với Mai Văn N không có mặt ở địa phương, nên chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau; Người thanh niên bán ma túy cho Tuấn A, do chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, nên chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau; đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T (mẹ của Đ) không biết việc Đ, Tuấn A, Q và N tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm đối với bà T là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Tuấn A, Trần Văn Đ và Trần Văn Q (C) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 17, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Tuấn A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/9/2024).

Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 17, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/9/2024).

Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 17, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q (C) 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/9/2024).

Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại cho bị cáo Phạm Tuấn A 01 (một) xe mô tô biển số 67F1 – 638.37. Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số loại YO02, màu xanh; 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu SAMSUNG, số loại: Galaxy A12, màu xanh. Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 1266/KL-KTHS ngày 07/9/2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H2, Lê Vũ P, bên trong có các mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng: 0,2557g; 02 (hai) hộp quẹt gas; 01 (một) bình hút tự chế; 01 (một) hộp giấy; 20 (hai mươi) bọc nilong; 01 (một) nỏ thuỷ tinh; 01 (một) hộp nhựa. (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Phạm Tuấn A, Trần Văn Đ, Trần Văn Q (C), mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh An Giang (1);

- VKSND thị xã Tịnh Biên (1);

- CQCSĐT CA thị xã Tịnh Biên (1);

- Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên (1);

- Bị cáo (3);

- Đương sự (1);

- Lưu: HS, THAHS (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Ngọc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 13/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị các Phạm Tuấn A và đồng phạm phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger