| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập – Tự do – Hạnh phúc | |
| Bản án số: 13/2025/HS-ST | |
| Ngày: 16/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh và ông Huỳnh Công Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đáng và ông Lê Trung Nghĩa – Kiểm sát viên Trung cấp.
Vào ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Kim H, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1978; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tấn Đ (chết) và bà Võ Thị T, sinh năm 1934; có vợ Võ Thị Thanh M, sinh năm 1984 và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/7/2024 bị Toà án nhân dân huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên xử phạt 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự (đã chấp hành xong); bị cáo tại ngoại; có mặt.
2. Nguyễn Tấn L, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1979; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tấn Đ (chết) và bà Võ Thị T, sinh năm 1934; có vợ Cao Thị T1, sinh năm 1990 và 02 con lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 24/01/2024 bị Ủy ban nhân dân huyện P xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi tàng trữ cát không có nguồn gốc, xuất xứ (nộp phạt ngày 02/02/2024); nhân thân: Ngày 08/7/2024 bị Toà án nhân dân huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự (đã chấp hành xong); bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã H, huyện P. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T2 – Chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã.
+ Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Văn T3 – Chức vụ: Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã; Văn bản uỷ quyền số 1036/UBND ngày 30/8/2024; ông T3 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Văn T4, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Nguyễn Tấn V, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Võ Văn C, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Khu phố D, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Trần Đ1, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Đỗ Đức P, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Nguyễn Cao T5, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Trần Xuân H1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Lê Văn D, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Phạm Triệu L1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Trần Văn L2, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Nguyễn Thị M1, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Khu phố E, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Võ Văn N1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Nguyễn Văn V1, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Lê Thanh T6, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Phạm Ngọc T7, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; ông T7 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Võ Văn T3, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; ông T3 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Phạm Ngọc T8, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; ông T8 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Văn L3, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; ông L3 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bãi bồi Sông Ba thuộc thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên là khu vực có khoáng sản cát chưa khai thác được bảo vệ, thuộc trách nhiệm quản lý của Uỷ ban nhân dân (UBND) xã H, huyện P. Nguyễn Kim H và Nguyễn Tấn L không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản theo quy định, từ tháng 4/2022 đến ngày 27/5/2024 H và L đã thực hiện hành vi khai thác 2.965m³ khoáng sản cát, trị giá 474.400.000 đồng tại khu vực nêu trên, thu lợi bất chính số tiền 187.528.000 đồng, cụ thể:
- Từ tháng 4/2022 đến tháng 12/2022, H sử dụng xe múc (đào) bánh xích do L cho mượn để múc cát ở khu vực trên lên xe ô tô tải biển số 78H-006.35 của H rồi vận chuyển về tập kết tại bãi đất thuộc khu vực trại nuôi heo do Liễn quản lý. Liễn biết việc H khai thác cát là trái phép nhưng vẫn cho H mượn xe múc và đồng ý để H sử dụng khu đất do mình quản lý chứa cát khai thác trái phép. H tự liên hệ tìm người mua hoặc thông qua Võ Văn C, trú khu phố D, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên tìm người mua cát, sau khi thống nhất địa điểm giao và giá bán cát, H dùng xe ô tô tải vận chuyển cát giao cho người mua, thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng của H. Khối lượng cát mà H đã khai thác và bán là 1.060m³, thu lợi bất chính số tiền 59.788.000 đồng, đưa cho L 5.000.000 đồng. H trả công cho C 100.000 đồng mỗi xe cát do C giới thiệu.
- Từ tháng 01/2023 đến tháng 5/2024, H và L cùng nhau sử dụng xe múc của L, 02 xe ô tô tải biển số 78H-006.35 và 78C-014.12 của H để múc cát ở khu vực trên vận chuyển về tập kết tại bãi đất thuộc khu vực trại nuôi heo của L, sau đó H liên hệ tìm người mua rồi H và L thay phiên nhau vận chuyển cát đi giao cho người mua, thanh toán tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng của H. Trong đó, các ngày 12/5/2024 và 13/5/2024, H thuê Nguyễn Tấn V, trú thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên điều khiển xe ô tô tải vận chuyển 64m³ cát khai thác được từ khu vực trên về bãi tập kết được H trả công 1.000.000 đồng; các ngày 25/5/2024 và 27/5/2024, H thuê Nguyễn Văn T4 điều khiển xe múc để múc 96m³ cát tại khu vực trên lên xe ô tô tải để H và L vận chuyển về bãi tập kết, T4 chưa nhận tiền công. Khối lượng cát đã khai thác và bán là 1.758m³, thu lợi bất chính số tiền 127.740.000 đồng, trong đó: H được hưởng lợi số tiền 75.240.000 đồng, L được hưởng lợi số tiền 52.500.000 đồng.
Khoảng 23 giờ ngày 27/5/2024, Công an huyện P kiểm tra phát hiện H, L và T4 đang khai thác cát tại khu vực trên thì H và L có hành vi chống đối lực lượng thi hành nhiệm vụ, bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi chống người thi hành công vụ.
Kết luận giám định tư pháp số 246 ngày 16/9/2024 của Liên đoàn Địa chất T10 kết luận: Khối lượng khoáng sản đã khai thác tại bãi bồi soi Dâu thuộc thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên là 2.965m³; khối lượng cát tại Nhà tạm giữ Công an huyện P là 53,1m³ (cát thu giữ từ ông Nguyễn Văn V1 là 13,1m³, cát thu giữ từ trại heo của Nguyễn Tấn L là 40m³); loại tài nguyên khoáng sản cát này phù hợp với nhóm cát vàng dùng trong xây dựng.
Kết luận định giá tài sản số 29 ngày 09/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tỉnh Phú Yên kết luận: Giá trị của 2.965m³ cát xây theo giá thấp nhất trong thời điểm từ năm 2022 đến năm 2024, trên địa bàn huyện P là 474.400.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSPY-P1 ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo Điểm a, Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- Các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L đều khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản Cáo trạng đã truy tố là đúng với tình tiết của vụ án, không oan.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên
các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.
+ Về hình phạt: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 227; Điều 35; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; thêm Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L; phạt: Bị cáo Nguyễn Kim H từ 300.000.000 đồng đến 350.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Tấn L từ 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng.
+ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự;
++ Buộc các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L liên đới bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân xã H, huyện P số tiền 474.400.000₫ (Bốn trăm bảy mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường của các bị cáo, theo đó bị cáo Nguyễn Kim H phải bồi thường 300.000.000đ, đã bồi thường 26.000.000₫ và số tiền 17.900.000₫ do Võ Văn C nộp, nên bị cáo H còn tiếp tục bồi thường 256.100.000đ; bị cáo Nguyễn Tấn L phải bồi thường 174.400.000đ, đã bồi thường 25.500.000đ, nên còn phải tiếp tục bồi thường 148.900.000đ.
++ Tuyên trả cho nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân xã H, huyện P số tiền 69.400.000 đồng mà các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn C đã nộp.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: - Cát xây dựng, khối lượng 53,1m³ (đang được tạm giữ tại khu vực Nhà tạm giữ Công an huyện P). - 01 (một) xe ô tô tải hiệu DONGFENG VIETTRUNG, biển số 78H-006.35, sơn màu xanh, số khung: RR8TD82D4BHD00127, số máy YC4E135-21*E11D2B00035*, đã qua sử dụng; kèm theo + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 78005381 do Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh P cấp ngày 28/12/2021, biển số đăng ký 78H-006.35, + 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô số EB 0044565 của xe ô tô biển số 78H-006.35, + 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm của xe ô tô biển số 78H-006.35, thời hạn bảo hiểm đến 08/5/2025, thu giữ của bị cáo Nguyễn Kim H. - 01 (một) xe ô tô tải hiệu DONGFENG VIETTRUNG, biển số 78H-014.12, sơn màu xanh, số khung: RR8TD82D4AHB00069, số máy YC4E135-21*E1105A00280*, đã qua sử dụng; kèm theo + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 78000048 do Công an huyện S cấp ngày 05/7/2022, biển số đăng ký 78H-014.12; + 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô số EB 0044572 của xe ô tô biển số 78H-014.12; + 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm của xe ô tô biển số 78H-014.12, thời hạn bảo hiểm đến 17/4/2024 thu giữ của bị cáo Nguyễn Kim H. - 01 (một) xe đào bánh xích hiệu HITACHI, sơn màu cam, số khung *1C9P021825*, số máy: 201310, đã qua sử dụng; - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s, số máy: MN1E2LL/A; số sê ri: C6KT65Y1HFLM, số IMEI 1: 354957072294641, bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số: 8984048000314919377, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Tấn L (Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).
Các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo luật định.
Các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L không tranh luận gì, các bị cáo nói lời sau cùng đều xin được pháp luật khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án không bị khiếu nại. Việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, vắng mặt đại diện nguyên đơn dân sự; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhưng xét thấy, những người này đều đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, chấp nhận ý kiến của các bị cáo, Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự. Toà án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, cũng như tại Cơ quan điều tra đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của đại diện nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; kết luận giám định, định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 4/2022 đến tháng 5/2024, tại khu vực bãi bồi Sông B thuộc thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Nguyễn Kim H và Nguyễn Tấn L không có giấy phép, nhưng lại khai thác 2.965m³ cát xây dựng, trị giá 474.400.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 187.528.000 đồng. Nên bản Cáo trạng số: 15/CT-VKS-P1 ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”, theo Điểm a, Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về khai thác tài nguyên là khoáng sản cát vàng dùng trong xây dựng, nên cần xử phạt thoả đáng. Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L biết khu vực bãi bồi Sông Ba thuộc sự quản lý của cơ quan Nhà nước, bản thân các bị cáo không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản, nhưng vẫn thống nhất với nhau thực hiện hoạt động khai thác cát trái phép để bán thu lợi bất chính 187.528.000 đồng; trong đó bị cáo H được hưởng lợi 130.028.000 đồng, bị cáo L được hưởng lợi 57.500.000 đồng; quá trình khai thác cát trái phép bị cơ quan chức năng phát hiện, lập biên bản xử lý, lại có hành vi chống đối, nên bị Toà án nhân dân huyện Phú Hoà xử phạt tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, do đó cần có hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục và ngăn ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo H vừa chấp hành hình phạt 06 tháng tù, bị cáo L vừa chấp hành xong hình phạt 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HSST ngày 08/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Hoà, thời gian chấp hành hình phạt tù cũng đã đủ cải tạo, răn đe và giáo dục các bị cáo; mặt khác, các bị cáo có mối quan hệ anh em, có bác ruột Nguyễn Tấn C1 là Liệt sĩ, đến nay các phương tiện lao động, sản xuất là máy múc (đào), xe ô tô lại dùng vào việc phạm tội đã bị thu giữ, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo thực sự khó khăn được chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú xác nhận; sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo H đã nộp bồi thường 26.000.000 đồng, có con gái Nguyễn Thị Hoàng M2, sinh ngày 10/5/2011 bị bệnh thiếu máu do thiếu sắt, nhiễm ký sinh trùng khác phải điều trị dài ngày; bị cáo L nộp bồi thường 25.500.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L, đồng thời áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo, trong đó hình phạt của bị cáo H cao hơn bị cáo L cũng là phù hợp, nên chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
[4.1] Đại diện nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân xã H, huyện P yêu cầu các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L bồi thường thiệt hại số tiền 474.400.000 đồng; các bị cáo chấp nhận bồi thường theo yêu cầu cho đại diện của nguyên đơn dân sự, trong đó bị cáo H tự nguyện bồi thường số tiền 300.000.000 đồng, bị cáo L bồi thường số tiền 174.400.000 đồng. Xét sự thỏa thuận giữa các bị cáo với nhau, giữa các bị cáo với đại diện của nguyên đơn dân sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 587, 589 Bộ luật Dân sự; nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận là có căn cứ chấp nhận.
[4.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn C đã nộp lại số tiền 17.900.000 đồng, là số tiền có được từ việc giúp bị cáo Nguyễn Kim H bán cát khai thác trái phép, nên được khấu trừ vào phần trách nhiệm bồi thường cho bị cáo H.
[4.3] Các bị cáo đã nộp bồi thường 51.500.000 đồng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn C đã nộp lại số tiền 17.900.000 đồng nên tuyên trả cho nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân xã H, huyện P.
[5] Về xử lý vật chứng: - Cát xây dựng, khối lượng 53,1m³ (đang được tạm giữ tại khu vực Nhà tạm giữ Công an huyện P). - 01 (một) xe ô tô tải hiệu DONGFENG VIETTRUNG, biển số 78H-006.35, sơn màu xanh, số khung: RR8TD82D4BHD00127, số máy YC4E135-21*E11D2B00035*, đã qua sử dụng; kèm theo + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 78005381 do Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh P cấp ngày 28/12/2021, biển số đăng ký 78H-006.35, + 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô số EB 0044565 của xe ô tô biển số 78H-006.35, + 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm của xe ô tô biển số 78H-006.35, thời hạn bảo hiểm đến 08/5/2025, thu giữ của bị cáo Nguyễn Kim H. - 01 (một) xe ô tô tải hiệu DONGFENG VIETTRUNG, biển số 78H-014.12, sơn màu xanh, số khung: RR8TD82D4AHB00069, số máy YC4E135-21*E1105A00280*, đã qua sử dụng; kèm theo + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 78000048 do Công an huyện S cấp ngày 05/7/2022, biển số đăng ký 78H-014.12; + 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô số EB 0044572 của xe ô tô biển số 78H-014.12; + 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm của xe ô tô biển số 78H-014.12, thời hạn bảo hiểm đến 17/4/2024 thu giữ của bị cáo Nguyễn Kim H. - 01 (một) xe đào bánh xích hiệu HITACHI, sơn màu cam, số khung *1C9P021825*, số máy: 201310, đã qua sử dụng; - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s, số máy: MN1E2LL/A; số sê ri: C6KT65Y1HFLM, số IMEI 1: 354957072294641, bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số: 8984048000314919377, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Tấn L (Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).
Khoáng sản Cát xây dựng thu giữ là tài sản do phạm tội mà có, cũng như các tài sản còn lại của các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L, được các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội. Nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là có căn cứ chấp nhận.
[6] Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6.1] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L bị kết án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
[6.2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Kim H còn phải bồi thường 256.100.000₫ x 5% = 12.805.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Tấn L còn phải bồi thường 148.900.000₫ x 5% = 7.445.000 đồng.
[7] Võ Văn C có hành vi giúp bị cáo Nguyễn Tấn H2 bán cát khai thác được; Trần Đ1, Lê Thanh T6, Phạm Triệu L1, Đỗ Đức P, Trần Văn L2, Nguyễn Cao T5, Nguyễn Văn V1, Nguyễn Thị N, Võ Văn N1, Trần Xuân H1, Lê Văn D, Nguyễn Thị M1 có hành vi mua cát của bị cáo Nguyễn Tấn H2 nhưng không biết cát do bị cáo H2 khai thác trái phép mà có, nên không cấu thành tội phạm.
[8] Trong giai đoạn từ tháng 4/2022 đến tháng 5/2024, ông Phạm Ngọc T9 nguyên là Phó Chủ tịch UBND xã H, ông Võ Văn T3 là Phó Chủ tịch UBND xã H, ông Phạm Ngọc T8 nguyên là Chủ tịch hội nông dân xã kiêm công chức Địa chính, nông nghiệp, xây dựng và môi trường, ông Nguyễn Văn L3 là Công chức địa chính, nông nghiệp, xây dựng và môi trường được phân công thực hiện chức, năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoáng sản, có tham mưu, tổ chức tuyên truyền pháp luật, tuần tra, phát hiện, xử lý vi phạm, nên không xử lý về hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”;
1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 227; Điều 35; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; thêm Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L; phạt:
1.1. Bị cáo Nguyễn Kim H 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng).
1.2. Bị cáo Nguyễn Tấn L 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 587, 589 Bộ luật Dân sự;
2.1. Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận, buộc các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L liên đới bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân xã H, huyện P số tiền 474.400.000₫ (Bốn trăm bảy mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Bị cáo H bồi thường số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng), đã bồi thường 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng), cộng với số tiền 17.900.000đ (Mười bảy triệu chín trăm nghìn đồng) do Võ Văn C nộp, nên còn tiếp tục bồi thường 256.100.000₫ (Hai trăm năm mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng). Bị cáo L bồi thường số tiền 174.400.000đ (Một trăm bảy mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng), đã bồi thường 25.500.000đ (Hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng), nên còn phải tiếp tục bồi thường 148.900.000đ (Một trăm bốn mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng).
2.2. Tuyên trả cho nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên số tiền 69.400.000đ (Sáu mươi chín triệu bốn trăm nghìn đồng). Trong đó, số tiền 58.900.000đ (Năm mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng), do bà Võ Thị Thanh M (vợ bị cáo Nguyễn Kim H), bà Cao Thị T1 (vợ bị cáo Nguyễn Tấn L) và Võ Văn C nộp vào tài khoản số 3949.0.9040469 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh P, giấy nộp tiền các ngày 13/9/2024, 02/10/2024, 04/10/2024 và đã được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã chuyển vào tài khoản 3949.0.1054170.00000 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh P (theo uỷ nhiệm chi số 04, ngày 19/02/2025); số tiền 10.500.000₫ do các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L nộp vào tài khoản số 3949.0.9040469 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Yên, giấy nộp tiền ngày 08/4/2025.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: - Cát xây dựng, khối lượng 53,1m³ (đang được tạm giữ tại khu vực Nhà tạm giữ Công an huyện P) - 01 (một) xe ô tô tải hiệu DONGFENG VIETTRUNG, biển số 78H-006.35, sơn màu xanh, số khung: RR8TD82D4BHD00127, số máy YC4E135-21*E11D2B00035*, đã qua sử dụng; kèm theo + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 78005381 do Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh P cấp ngày 28/12/2021, biển số đăng ký 78H-006.35, + 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô số EB 0044565 của xe ô tô biển số 78H-006.35, +01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm của xe ô tô biển số 78H-006.35, thời hạn bảo hiểm đến 08/5/2025, thu giữ của bị cáo Nguyễn Kim H. - 01 (một) xe ô tô tải hiệu DONGFENG VIETTRUNG, biển số 78H-014.12, sơn màu xanh, số khung: RR8TD82D4AHB00069, số máy YC4E135-21*E1105A00280*, đã qua sử dụng; kèm theo + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 78000048 do Công an huyện S cấp ngày 05/7/2022, biển số đăng ký 78H-014.12; + 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô số EB 0044572 của xe ô tô biển số 78H-014.12; + 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm của xe ô tô biển số 78H-014.12, thời hạn bảo hiểm đến 17/4/2024 thu giữ của bị cáo Nguyễn Kim H. - 01 (một) xe đào bánh xích hiệu HITACHI, sơn màu cam, số khung *1C9P021825*, số máy: 201310, đã qua sử dụng; - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s, số máy: MN1E2LL/A; số sê ri: C6KT65Y1HFLM, số IMEI 1: 354957072294641, bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số: 8984048000314919377, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Tấn L (Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
4.1. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Kim H, Nguyễn Tấn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4.2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Kim H phải chịu 12.805.000₫ (Mười hai triệu tám trăm lẻ năm nghìn đồng). Bị cáo Nguyễn Tấn L phải chịu 7.445.000đ (Bảy triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đại diện nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về vi phạm quy định về khai thác tài nguyên
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kim H và đp
