Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 13 /2025/HSST

Ngày: 24/03/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Trinh; ông Nguyễn Xuân Tào

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXHSST – HS, ngày 11 tháng 03 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Thị D; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 23 tháng 09 năm 1980, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Võ Xuân Q (đã chết) và bà: Bùi Thị T (đã chết); anh em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ bảy; có chồng: Hoàng Văn D1 (đang chấp hành án phạt tù) và 01 con sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2024 đến ngày 24/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh; Có mặt.

Bị hại:

Anh Nguyễn Văn Đ; sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Chị Hoàng Thị Ha N; sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt tại phiên toà.

Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị Q1; sinh năm 1954; nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

- Bà Hoàng Thị P; sinh năm 1954; nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

- Ông Phạm Hữu T1; sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng giữa tháng 8/2024, Võ Thị D đi đến nhà các hộ dân ở xã K và xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh để hỏi mua cây cảnh về bán kiếm lời. Khi đến nhà bà Trần Thị Q2, sinh năm 1954, trú tại thôn N, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh và bà Hoàng Thị P, sinh năm 1954, trú tại thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thấy có hai cây Chay thì Võ Thị D hỏi mua nhưng bà Trần Thị Q2 và bà Hoàng Thị P không bán, nên Võ Thị D chụp ảnh hai cây C lưu vào trong máy điện thoại của mình. Đến cuối tháng 8/2024, do thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên Võ Thị D nảy sinh ý định lừa bán cây Chay để lấy tiền. Võ Thị D vào mạng xã hội Facebook tham gia vào hội nhóm mua bán cây cảnh đồng thời đăng thông tin cần bán cây, đính kèm số điện thoại của mình và hình ảnh hai cây C chụp ở nhà bà Trần Thị Q2 và bà Hoàng Thị P lên nhóm. Do có nhu cầu mua cây về làm cảnh nên vào sáng ngày 23/8/2024, anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992, trú tại xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh liên hệ với D để hỏi mua hai cây Chay trên. Quá trình trao đổi, D nói dối hai cây Chay là của mình do cần tiền nên bán và thống nhất bán cho anh Nguyễn Văn Đ với giá 25.000.000 đồng (Gồm cả chi phí vận chuyển ra tận vườn tại huyện H cho anh Đ), đồng thời D yêu cầu anh Nguyễn Văn Đ chuyển trước 10.000.000 đồng tiền cọc rồi cung cấp số tài khoản 9977663250 của D, mở tại ngân hàng V yêu cầu anh Đ chuyển tiền vào và hứa hẹn sau ba ngày kể từ ngày nhận tiền cọc sẽ chuyển cây lên cho anh Đ. Tin tưởng những lời nói của D, nên vào lúc 20 giờ 20 phút tối ngày 23/8/204, anh Đ sử dụng phần mềm Bankplus trên điện thoại di động chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ số tài khoản 108878016836 của anh Đ mở tại ngân hàng V vào số tài khoản 9977663250 của D rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển, nhận tiền. Sau khi nhận tiền từ anh Nguyễn Văn Đ, Võ Thị D đã chặn tài khoản Facebook và điện thoại của anh Đ không cho anh Đ liên lạc với mình. Sau một thời gian không liên lạc được với D nên anh Đ tìm hiểu thì biết được hai cây Chay đó không phải của D từ đó biết mình bị lừa nên ngày 19/12/2024, anh Đ đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Tổng số tiền Võ Thị D lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Đ là 10.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Samsung M20, màu xanh than, số IMEI1: 354556101808254, số IMEI2: 35455710180252 và một điện thoại di động hiệu Oppo A3, màu xám đen, số IMEI1: 865950071361034; số IMEI2:865950071361026, gắn sim số 0977663250, sim số 096.2948542 đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Hoàng Thị Ha N (con gái của bị cáo) đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn Đ đầy đủ, hiện anh Đ không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT- VKSKA ngày 14 tháng 02 năm 2025, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Võ Thị D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Thị D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt Võ Thị D mức án từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Võ Thị D có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
  • - Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung M20, màu xanh than, số IMEI1: 354556101808254, số IMEI2: 35455710180252.
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động hiệu Oppo A3, màu xám đen, số IMEI1: 865950071361034; số IMEI2:865950071361026; tich thu tiêu huỷ sim số 0977663250, sim số 096.2948542.
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc bị cáo Võ Thị D phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Với thủ đoạn khi nhìn thấy 02 cây Chay của bà Trần Thị Q2 và bà Hoàng Thị P, bị cáo D đã chụp ảnh đăng lên nhóm mua bán cây cảnh trên mạng xã hội Facebook, nói dối là tài sản của mình để lừa bán lấy tiền. Tin tưởng vào các thông tin mà Võ Thị D đưa ra nên vào sáng ngày 23/8/2024, anh Nguyễn Văn Đ ở Thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã đồng ý mua và vào lúc 20 giờ 20 phút cùng ngày anh Nguyễn Văn Đ chuyển vào số tài khoản 9977663250 của Võ Thị D số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi lừa bán và lấy được tiền, Võ Thị D đã chặn liên lạc với anh Nguyễn Văn Đ. Như vậy hành vi của Võ Thị D đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không có gì oan sai.

[3] Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một mình. Hành vi của Võ Thị D đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó thể hiện sự táo bạo và liều lĩnh, gây hoang mang lo lắng cho mọi người, nguyên nhân phạm tội do hám lợi, lối sống lười lao động của bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Thị D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có hoàn cảnh khó khăn, không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm minh.

[7] Về dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu thêm gì về dân sự nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[8] Vật chứng vụ án:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3, màu xám đen, số IMEI1: 865950071361034; số IMEI2:865950071361026; sim số 0977663250, sim số 096.2948542 là công cụ Võ Thị D dùng vào việc phạm tội, vật không có giá trị do đó cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A3, màu xám đen và tịch thu tiêu huỷ sim số 0977663250, sim số 096.2948542
  • - Đối với điện thoại di động hiệu Samsung M20, màu xanh than, số IMEI1: 354556101808254, số IMEI2: 35455710180252, bị cáo không liên quan đến tội phạm nên căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho Võ Thị D là phù hợp.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 326, 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Thị D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt Võ Thị D 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Võ Thị D cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân xã K trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  1. Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động hiệu Oppo A3, màu xám đen, số IMEI1: 865950071361034, số IMEI2: 865950071361026; Tịch thu tiêu huỷ sim số 0977663250, sim số 096.2948542; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung M20, màu xanh than, số IMEI1: 354556101808254, số IMEI2: 35455710180252. (Đặc điểm và tình trạng vật chứng nói trên như biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/02/2025)
  2. Về án phí: Xử buộc Võ Thị D phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an Hà Tĩnh (PV 06)
  • - Chi cục THADS huyện Kỳ Anh;
  • - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an huyện Kỳ Anh (2 bản);
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo, người có QLNVLQ
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu văn thư

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HSST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 13/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Duận phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger