Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HSST

Ngày: 07/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.
  • Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đúng và ông Phạm Tiến Dũng.
  • Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Lại Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 20/12/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/HSST-QĐ ngày 10/01/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 06/2025/HSST-QĐ ngày 07/02/2025, đối với:

* Bị cáo: Vũ Văn T, tên gọi khác: C, sinh năm 1998 tại huyện P, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Vũ Văn T1, sinh năm 1973 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1975; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Vũ Thị Thúy N, sinh năm 1999, bị cáo có 01 con sinh năm 2020, đều trú tại xã M, huyện P, Thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam N2 - Bộ C1; Có mặt.
  • + Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Số nhà H, thôn T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T8 - Bộ C1; Có mặt.
  • + Chị Đinh Thị L, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T8 - Bộ C1; Có mặt.
  • + Ông Nguyễn Công K, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Đ, thôn T, xã L, huyện T, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.
  • + Ông Vũ Như A, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  • + Ông Vũ Văn X, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Như Đ, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Thôn E, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Khoảng đầu năm 2020, Bùi Thị H1, sinh năm 1987 là công nhân Công ty TNHH M (địa chỉ tại thị trấn N, tỉnh Ninh Bình) sử dụng số điện thoại 0392.914.xxx đăng ký tài khoản Zalo tên "Huyền Kiểm Định" và đăng ký tài khoản Facebook tên "My Trà" tham gia các hội nhóm trên mạng xã hội Facebook đăng các bài viết có nội dung nhận làm chứng chỉ vận hành các loại máy công trình, thẻ an toàn lao động...để những người có nhu cầu mua sẽ liên hệ với H1. Sau khi H1 đăng tải quảng cáo làm chứng chỉ giả các loại thì Nguyễn Thị O, Đinh Thị L (đều làm cùng Công ty với H1) và một số đối tượng khác đã liên hệ để mua rồi bán lại cho người khác.

Để có các loại chứng chỉ giả bán cho các đối tượng, H1 đã mua lại của Nguyễn Công K với giá từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng, bán cho Nguyễn Thị O, Đinh Thị L với giá từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng. Nguyễn Công K mua của một người nam giới tên H2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá từ 200.000 đồng đến 250.000 đồng.

Năm 2022, vụ án đã được khởi tố, điều tra, truy tố và ngày 05/12/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đã xét xử Nguyễn Công K, Bùi Thị H1, Nguyễn Thị O, Đinh Thị L và một số đối tượng khác về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Do hết thời hạn điều tra nên Cơ quan an ninh điều tra (ANĐT) đã tách hành vi của một số đối tượng liên quan để tiếp tục điều tra ở giai đoạn 2. Quá trình điều tra giai đoạn 2, Cơ quan ANĐT đã xác định Vũ Văn T, sinh năm 1998, trú tại thôn T, xã M, huyện P, Thành phố Hà Nội đã có hành vi mua bán 03 chứng chỉ giả cho các đối tượng cụ thể:

Tháng 02/2022, Vũ Văn T làm công nhân tại Công ty G (thuộc Khu công nghiệp Đ, thị xã D) quen biết Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998 trú tại huyện L, tỉnh Hà Nam và Vũ Văn X, sinh năm 1997 trú tại huyện Ứ, Thành phố Hà

Nội là người làm cùng Công ty. T2 và X nhờ T mua hộ chứng chỉ xe nâng để khi cần thì sử dụng. Vũ Văn T sử dụng số điện thoại 0886.155.xxx, tài khoản Zalo “Cảnh đôrêmon” truy cập mạng xã hội nhắn tin liên hệ với tài khoản Zalo tên “Bông Ruby” của Nguyễn Thị O để đặt mua Chứng chỉ vận hành xe nâng giả của Trường Cao đẳng G1 với giá 830.000 đồng/chứng chỉ (gồm cả 30.000 đồng tiền ship). O yêu cầu T gửi ảnh chân dung, ảnh chụp chứng minh nhân dân/căn cước công dân hoặc thông tin nhân thân, các thông tin về chứng chỉ cần mua và gửi cho O qua tin nhắn Zalo. O chuyển lại thông tin cho H1, H1 chuyển tiếp cho K đặt làm chứng chỉ giả. Sau khi nhận được chứng chỉ, O gửi cho T thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh VN P. Vũ Văn T bán lại cho Nguyễn Văn T2 với giá 1.030.000 đồng, Vũ Văn X với giá 1.330.000 đồng. Ngoài ra cũng bằng hình thức trên Vũ Văn T còn mua chứng chỉ giả của O cho Vũ Như A, sinh năm 1998 trú tại huyện P, Thành phố Hà Nội (là người cùng thôn). Vũ Như A tự nhận trực tiếp Chứng chỉ xe nâng qua đường bưu điện nhưng T yêu cầu nhân viên bưu điện T9 số tiền là 1.330.000 đồng rồi chuyển lại cho T 500.000 đồng.

Tổng số tiền Vũ Văn T thu lời bất chính từ việc mua bán 03 chứng chỉ giả là 1.150.000 đồng (T đã tự nguyện nộp 1.200.000 đồng); Nguyễn Công K thu lời 300.000 đồng, Bùi Thị H1 thu lời 150.000 đồng và Nguyễn Thị O thu lời 1.200.000 đồng. Các đối tượng Nguyễn Văn T2, Vũ Văn X sau khi nhận chứng chỉ giả chưa sử dụng vào việc gì và tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra, riêng V như Anh chưa sử dụng vào việc gì và đã làm mất.

Cơ quan ANĐT Công an tỉnh H đã thu thập mẫu phôi chứng chỉ, mẫu dấu, mẫu chữ ký của ông Bùi Quốc T3 - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng G1 để làm mẫu so sánh.

Ngày 29/01/2024, Cơ quan ANĐT ra Quyết định số 31 trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh H giám định đối với 02 Chứng chỉ vận hành xe nâng mang tên Nguyễn Văn T2 (ký hiệu A1) và Vũ Văn X (ký hiệu A2). Kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 17/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận:

“1. Các lớp in trên Chứng chỉ sơ cấp cần giám định ký hiệu A1, A2 so với các lớp in trên Chứng chỉ sơ cấp mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng những bản in tương ứng in ra.

2. Người có mẫu chữ ký đứng tên Bùi Quốc T3 - Phó Hiệu trưởng trên mẫu so sánh ký hiệu M2 không ký ra chữ ký đứng tên Bùi Quốc T3 dưới mục “KT.HIỆU TRƯỞNG - PHÓ HIỆU TRƯỞNG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2. Chữ ký đứng tên Bùi Quốc T3 dưới mục “KT.HIỆU TRƯỞNG - PHÓ HIỆU TRƯỞNG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 là hình dấu chữ ký.

3. Hình dấu tròn có nội dung “TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG I” dưới mục “KT.HIỆU TRƯỞNG - PHÓ HIỆU TRƯỞNG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải do cùng một con dấu đóng ra."

Quá trình điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan ANĐT còn xác định:

Từ tháng 09/2020 đến tháng 06/2022, Dương Trọng Q, sinh năm 1983 là Giám đốc Công ty TNHH MTV K2 ở địa chỉ số A, ngõ B K, phường K, quận T, Hà Nội cùng Nguyễn Thùy L1, sinh năm 1995 là kế toán Công ty đã thực hiện hành vi làm, cấp 93 Giấy chứng nhận kiểm định kỹ thuật, Giấy kiểm tra kỹ thuật các loại máy công trình nhưng không thực hiện thủ tục kiểm tra thực tế máy ở hiện trường để bán cho Bùi Thị H1 và Nguyễn Thị O. Ngoài ra, Nguyễn Thùy L1 còn mua 26 Chứng chỉ sơ cấp giả của Bùi Thị H1 để bán cho các đối tượng nhằm thu lợi bất chính. Dương Trọng Q tự nguyện nộp 2.000.000 đồng, Nguyễn Thùy L1 tự nguyện nộp 3.000.000 đồng tiền thu lời bất chính.

Ngày 16/10/2024, Cơ quan ANĐT đã tách hành vi Dương Trọng Q, Nguyễn Thùy L1 chuyển nguồn tin về tội phạm cùng toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan để nhập cùng vụ án “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” do Công an thành phố V đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Dương Trọng Q.

Tháng 08/2022, Nguyễn Như Đ, sinh năm 1974 trú tại huyện K, Hà Nam mua của Bùi Thị H1 03 Chứng chỉ vận hành lò hơi với giá 1.000.000 đồng/Chứng chỉ để bán lại cho Trần Công T4 sinh năm 1979 trú tại huyện Đ, tỉnh Long An, Lê Minh H3 sinh năm 1987 trú tại huyện C, tỉnh Trà Vinh và Trần Quan N1 sinh năm 1980 trú tại huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Đ khai, sau khi nhận được 03 Chứng chỉ trên không giao lại cho T4, H3 và N1 mà đã vứt bỏ. Cơ quan ANĐT đã ủy thác điều tra lấy lời khai của các đối tượng nhưng không xác định được có hay không có việc nhờ Đ mua chứng chỉ giả do N1 và H3 vắng mặt tại địa phương, T4 khai không nhờ ai mua chứng chỉ nào. Vì vậy, chưa có căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Đ trong vụ án này mà tiếp tục xử lý khi có căn cứ.

Ngoài những nội dung đã điều tra, xác minh nêu trên; căn cứ các dữ liệu điện tử thể hiện Bùi Thị H1, Nguyễn Thị O và Đinh Thị L còn mua bán nhiều loại giấy tờ tài liệu giả. Do thời hạn điều tra đã hết, các đối tượng mua bán ở nhiều tỉnh, thành khác nhau nên Cơ quan ANĐT tách hành vi chuyển nguồn tin tội phạm cùng toàn bộ tài liệu có liên quan đến Cơ quan CSĐT, Công an các tỉnh: An Giang, Bạc Liêu, Bắc Giang, Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bình Dương, Bình Định, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cao Bằng, Cần Thơ, TP., Đắk Lắk, Đắk Nông, Điện Biên, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, TP Hà Nội, Hải Dương, TP Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Thừa Thiên - Huế, Hưng Yên, Kiên Giang, Khánh Hòa, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Nam, Sơn La, Tây Ninh, Tiền Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Trà Vinh, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Vũng Tàu, Yên Bái để tiến hành kiểm tra, xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tài sản, vật chứng Cơ quan ANĐT thu giữ từ giai đoạn trước nhưng chưa xử lý để phục vụ giai đoạn điều tra tiếp theo: 04 điện thoại di động của Nguyễn Công K, Bùi Thị H1, Nguyễn Thị O và Đinh Thị L; 07 Chứng chỉ sơ cấp ghi nơi cấp là Công ty cổ phần huấn luyện và kiểm định an toàn lao động Thành phố H và 01 Chứng chỉ sơ cấp nghề may công nghiệp mang tên Bùi Thị H1.

Tài sản, vật chứng thu giữ giai đoạn 2: Thu của Nguyễn Thùy L1 01 điện thoại Iphone 13, 01 Case máy tính, 01 máy in hiệu Brother DCP-T300. T5 của Dương Trọng Q 01 điện thoại Iphone 13, 03 Case máy tính, 01 máy in hiệu Brother DCP-T220. Thu của Vũ Ngọc S, sinh năm 1992, HKTT: Phòng 1912, Tòa A, phường K, H, Hà Nội 01 điện thoại Iphone 7, 01 điện thoại Samsung Galaxy note 20 Ulatra 5G. Thu của Nghiêm Anh T6, sinh năm 1989 trú tại xã M, huyện P, Hà Nội 01 điện thoại Xiaomi Redmi. Thu giữ 29 Chứng chỉ các loại, 13 Giấy chứng nhận kiểm tra kỹ thuật các loại máy (có 2 Chứng chỉ của Nguyễn Văn T2, Vũ Văn X).

Cơ quan ANĐT đã xử lý vật chứng, tài sản:

Đối với đồ vật, vật chứng, số tiền 5.000.000 đồng thu giữ của Dương Trọng Q, Nguyễn Thùy L1, Vũ Ngọc S, Nghiêm Anh T6; 13 Giấy chứng nhận kiểm tra kỹ thuật và 02 Chứng chỉ mang tên Nguyễn Thanh T7, Nguyễn Thành P được chuyển đến Cơ quan CSĐT, Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ để phục vụ công tác điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Chuyển đến Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh T 05 chứng chỉ, Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Q 22 chứng chỉ, Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh B 03 Chứng chỉ kèm theo các tài liệu liên quan để phục vụ công tác điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Các tài sản, vật chứng còn lại tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác xét xử, thi hành án. Quá trình điều tra Vũ Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, đã nộp lại số tiền thu lời bất chính.

Cáo trạng số 91/CT-VKSHN-P1 ngày 14/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố Vũ Văn T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 47, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: xử phạt Vũ Văn T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án; Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Truy thu số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Công K 300.000 đồng, Bùi Thị H1 150.000 đồng và Nguyễn Thị O 1.200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước; Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền bị cáo Vũ Văn T

thu lời bất chính 1.150.000 đồng, được đối trừ 1.200.000 đồng đã nộp, trả lại bị cáo 50.000 đồng nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án; Tịch thu sung quỹ nhà nước 03 điện thoại thu giữ của O, H1, L do liên quan đến tội phạm; Trả lại Nguyễn Công K 01 điện thoại do không liên quan đến tội phạm; Trả lại Nguyễn Thị H4 01 Chứng chỉ sơ cấp nghề may công nghiệp mang tên Bùi Thị H1 nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án; 02 Chứng chỉ giả thu của Nguyễn Văn T2 và Vũ Văn X được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn T thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận về tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Chị Nguyễn Thị O thừa nhận thu lợi bất chính 1.200.000 đồng, Bùi Thị H1 thừa nhận thu lợi bất chính 150.000 đồng, chị O, H1, L đề nghị giải quyết phần liên quan đến các chị theo quy định của pháp luật. Nguyễn Công K vắng mặt tại phiên toà, căn cứ tài liệu hồ sơ xác định đã thu lợi bất chính 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội, tội danh của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo Vũ Văn T thành khẩn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo và các bị cáo khác đã xét xử trước đó tại giai đoạn điều tra, lời khai Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, các kết luận giám định, kiểm tra dữ liệu điện thoại và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Với mục đích thu lợi bất chính, Vũ Văn T đã sử dụng điện thoại số 0886.155.xxx, tài khoản Zalo mang tên “Cảnh đôrêmon” truy cập mạng xã hội nhắn tin liên lạc với tài khoản Z “Bông Ruby” của Nguyễn Thị O đặt mua 03 Chứng chỉ vận hàng xe nâng giả của Trường cao đẳng G1 với giá 830.000 đồng/chứng chỉ (gồm cả 30.000 đồng tiền ship) để bán lại cho Nguyễn Văn T2 với giá 1.030.000 đồng, Vũ Văn X với giá 1.330.000 đồng và Vũ Như A 1.330.000 đồng, thu lợi bất chính tổng số tiền 1.150.000 đồng. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất của tội phạm là nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an cần xử lý nghiêm, tương xứng tính chất mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

[3]. Xét nhân thân, vai trò, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • * Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
  • * Về vai trò: Trong vụ án, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đồng phạm giản đơn với các bị cáo khác đã bị đưa ra xét xử trước đó.
  • * Về tình tiết giảm nhẹ: Giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51, bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính và có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • * Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vũ Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt: Đánh giá toàn diện vụ án, tính chất, mức độ, xem xét vai trò của bị cáo Vũ Văn T trong vụ án, các tình tiết giảm nhẹ, bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng nào, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bằng hình phạt tù mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo, phù hợp Điều 65 Bộ luật Hình sự và các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về án treo. Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Truy thu số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Công K 300.000 đồng, Bùi Thị H1 150.000 đồng và Nguyễn Thị O 1.200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

[6] Xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: (1) Số tiền bị cáo Vũ Văn T thu lợi bất chính là 1.150.000 đồng (được đối trừ số tiền bị cáo đã nộp 1.200.000 đồng) còn lại 50.000 đồng trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án; (2) 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A5 (2017), đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị O; (3) 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Thị H1; (4) 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Thị L do đều liên quan đến tội phạm. Trả lại cho: (1) Anh Nguyễn Công K 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 Pro, đã qua sử dụng; (2) Trả lại cho chị Nguyễn Thị H4 01 Chứng chỉ sơ cấp nghề may công nghiệp mang tên Bùi Thị H1 do đều không liên quan đến tội phạm; 02 Chứng chỉ giả thu của Nguyễn Văn T2 và Vũ Văn X được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016:

  1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 07/3/2025). Giao bị cáo Vũ Văn T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo Vũ Văn T.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Truy thu số tiền thu lợi bất chính đối với Nguyễn Công K 300.000 đồng, Bùi Thị H1 150.000 đồng và Nguyễn Thị O 1.200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: (1) Số tiền bị cáo Vũ Văn T thu lợi bất chính là 1.150.000 đồng (được đối trừ số tiền bị cáo đã nộp 1.200.000 đồng) còn lại 50.000 đồng trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án (Theo Uỷ nhiệm chi số 4499 lập ngày 22/11/2024 của Công an tỉnh H với Kho bạc Nhà nước tỉnh H); (2) 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A5 (2017), đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị O; (3) 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Thị H1; (4) 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Thị L do đều sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Trả lại cho: (1) Anh Nguyễn Công K 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 P, đã qua sử dụng. (Tình trạng tang vật nêu trên theo Biên bản mở niêm phong và giao, nhận vật chứng ngày 22/11/2024 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam); (2) Trả lại cho chị Nguyễn Thị H4 01 Chứng chỉ sơ cấp nghề may công nghiệp mang tên Bùi Thị H1 do đều không liên quan đến tội phạm. 02 Chứng chỉ giả thu của Nguyễn Văn T2 và Vũ Văn X được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và

9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Nam;
  • - Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ, Tòa HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Mạnh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HSST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 13/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger