Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HSST

Ngày: 13/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận;

Ông Phạm Thành Đô.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông An Bắc Lừng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/HSST ngày 02 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/ QĐXXST – HS ngày 02 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Thị Đ, sinh năm 1969, tại tỉnh Nghệ An.

Căn cước công dân số 04016900XXXX

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị Đ1; bị cáo có chồng và 02 người con đã trưởng thành; tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 20/07/2010, Lê Thị Đ bị Toà án nhân dân huyện Ea H Leo, tỉnh Đắk Lắk xử 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về Tội chứa mại dâm, tại Bản án số 58 ngày 27/10/2010. Bị cáo đã chấp hành xong và đóng án phí ngày 01/3/2017.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2024 cho đến nay, (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị L, sinh năm 1991, (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: A, tổ A, ấp E, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.

  3. Nguyễn Thị C1, sinh năm 1987, (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Người làm chứng:

  1. Trần Thanh S, sinh năm 1980, (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

  3. Nguyễn Thanh D, sinh năm 1981, (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 09 năm 2023, Lê Thị Đ thuê mặt bằng cùng cơ sở kinh doanh dịch vụ Karaoke của bà Phạm Thị L1 tại thôn H xã Đ, huyện B tỉnh Bình Phước và mở một quán cà phê tên “Hai P”. Đ có thuê Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị C1 làm nhân viên bán nước tại quán, đến khoảng cuối tháng 4/2024 thì L và C1 có nói chuyện với Đ là cho mượn vị trí quán cà phê “Hai Phương” của Đ để thực hiện hành vi bán dâm thì Đ đồng ý. Sau đó, Đ, L, C1 cùng thống nhất là mỗi lần bán dâm thì L và C1 sẽ đưa cho Đ 100.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 00 ngày 15/08/2024, khi Đ đang ở trong phòng ngủ thì Trần Thanh S và Nguyễn Thanh D đi tới quán cà phê “Hai Phương” để yêu cầu mua dâm. D lại gõ cửa phòng của Đ và hỏi “Bảy trăm ngàn hai người được không” thì Đ nói cứ thỏa thuận với nhân viên. Sau đó, D đã thoả thuận với C1 và L số tiền mua dâm là 800.000 đồng thì C1, L đồng ý và D đã đưa số tiền 800.000 đồng cho C1. C1 nhận tiền rồi dẫn S vào trong phòng số 03 của quán cà phê “Hai Phương” để thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Sau khi C1 và S thực hiện hành vi mua bán dâm xong thì C1 đi ra, đưa cho Đ số tiền 200.000 đồng, Đ nhận và trả lại cho C1 100.000 đồng. Tiếp tục, L dẫn D đi vào trong phòng, để thực hiện hành vi quan hệ tình dục và trong quá trình L và D đang quan hệ tình dục thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B phối hợp cùng Phòng Cảnh sát cơ động - Công an tỉnh B và Công an xã Đ kiểm tra, phát hiện nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thị Đ, tạm giữ tang vật để xử lý theo quy định.

Về vật chứng vụ án: 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao đã xé, hiệu “THIN”; 800.000 đồng (trong đó: 100.000 đồng thu lợi bất chính thu của bị cáo Lê Thị Đ; 700.000 đồng thu của Nguyễn Thị C1 là tiền bán dâm của Nguyễn Thị C1 và Nguyễn Thị L, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã nộp vào Kho bạc Nhà nước và chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ việc truy tố, xét xử.

Số tiền 2.900.000 đồng do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã trả lại cho bị can Đ.

Tại Cáo trạng số 07/CT –VKS.BĐ ngày 31/12/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lê Thị Đ về Tội chứa mại dâm, theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị Đ phạm Tội chứa mại dâm.

Về hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị Đ từ 30 tháng đến 42 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

Bị cáo Lê Thị Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 15 giờ ngày 15/8/2024, Lê Thị Đ đã đồng ý cho Nguyễn Thị C1 và Nguyễn Thị L bán dâm cho Nguyễn Thanh D và Trần Thanh S tại phòng số “03” quán cà phê “Hai Phương” thuộc thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Nguyễn Thanh D đã đưa cho Nguyễn Thị C1 số tiền 800.000 đồng. Sau khi Nguyễn Thị C1 thực hiện hành vi mua bán dâm đối với Trần Thanh S xong thì Nguyễn Thị L và Nguyễn Thanh D tiếp tục thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng số 03 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B phối hợp cùng Phòng Cảnh sát cơ động - Công an tỉnh B và Công an xã Đ kiểm tra, phát hiện nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thị Đ, tạm giữ tang vật để xử lý theo quy định.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Lê Thị Đ đã phạm Tội chứa mại dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 327: Tội chứa mại dâm

“1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Là nguyên nhân lây truyền các bệnh xã hội qua đường tình dục. Tuy nhiên, do lười lao động muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng nên bị cáo đã phạm tội. Bản thân bị cáo đã từng có 01 tiền án về Tội chứa mại dâm. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân không tốt.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo là con em gia đình có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Cần tịch thu tiêu hủy: 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao đã xé, hiệu “THIN”;

Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng (trong đó: 100.000 đồng thu lợi bất chính thu của bị cáo Lê Thị Đ; 700.000 đồng thu của Nguyễn Thị C1 là tiền bán dâm của Nguyễn Thị C1 và Nguyễn Thị L.

Đối với số tiền 2.900.000 đồng do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã trả lại cho bị cáo Đ là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Hành vi bán dâm của Nguyễn Thị C1 và Nguyễn Thị L, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thị C1 và Nguyễn Thị L theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP;

- Trần Thanh S và Nguyễn Thanh D quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B không xác định được nhân thân nên không đề cập xử lý.

- Bà Phạm Thị L1 là người cho bị can Lê Thị Đ thuê mặt bằng và quán Karaoke, bà L1 không biết Đ sử dụng để chứa mại dâm. Do đó, không có căn cứ để xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Đ phạm Tội chứa mại dâm.

Áp dụng khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Đ 02 năm, 06 tháng tù (hai năm, sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2024.

[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao đã xé, hiệu “THIN”;

(Biên bản giao, nhận vật chứng số 0009946 ngày 07/7/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện B)

Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng (trong đó: 100.000 đồng thu lợi bất chính thu của bị cáo Lê Thị Đ; 700.000 đồng thu của Nguyễn Thị C1 là tiền bán dâm của Nguyễn Thị C1 và Nguyễn Thị L.

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Thị Đ phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước.
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Khắc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HSST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (tội chứa mại dâm)

  • Số bản án: 13/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội chứa mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thi Đ phạm tội môi giới mại dâm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger