| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: /2025/HS-PT | |
| Ngày: 19 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Được.
Các Thẩm phán: Ông Cao Thiện Vinh.
Bà Trần Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng T cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1987 tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố G, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hồng H (chết) và bà Đỗ Thị Thanh L. Có chồng là Đặng Văn L1 và 02 người con.
Tiền án: Ngày 16/3/2007, bị Tòa án nhân dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền sự: Không.
Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Dương P, sinh năm 1971 tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố D, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương M (chết) và bà Nguyễn Thị H1 (chết). Có vợ bà Huỳnh Thị Kim L2, đã ly hôn và 02 người con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 15/4/2002, bị Công an phường M xử phạt 50.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng.
- Ngày 16/4/2012, bị Công an thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Thị N, sinh năm 1965 tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố I, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T1 (chết) và bà Võ Thị L3 (chết). Có chồng: ông Nguyễn Thanh L4 (chết) và 01 người con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/3/2014, bị Công an phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Huỳnh Thị Thúy T2, sinh năm 2002 tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn L5 (chết) và bà Nguyễn Thị B. Có chồng: ông Trịnh Minh T3 và 02 người con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa
- Lê Thị Ngọc H2, sinh năm 1985 tại Ninh Thuận.
Nơi đăng ký thường trú: Khu phố E, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Chỗ ở hiện nay: Khu phố A, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thắng N1 và bà Võ Thị T4 (chết). Có chồng đã ly hôn và 01 người con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, còn có các bị cáo Nguyễn Ngọc L6, Dương Thị Kim C, Võ Trương Ngọc T5, Nguyễn Thị T6 không có kháng cáo nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, Công an thành phố P - T phối hợp Công an phường M tiến hành kiểm tra tại nhà của Lê Thị Ngọc H2 ở khu phố A, phường M thì phát hiện: Nguyễn Ngọc L6, Nguyễn Thị Hồng T, Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2, Nguyễn Thị T6, Võ Trương Ngọc T5, Dương Thị Kim C, đang cùng nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bài xì lát (bài tây 52 lá) ăn thua bằng tiền. Thu giữ tại chiếu bạc: Số tiền 4.700.000 đồng, 01 tấm vải, 01 dĩa bằng inox, 01 bộ bài tây 52 lá và 10 bộ bài tây 52 lá (Chưa qua sử dụng). Ngoài ra còn tạm giữ: trên người các con bạc số tiền 22.640.000 đồng, 11 điện thoại di động, 04 xe mô tô các loại.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 12 giờ ngày 24/6/2024, khi đang ở nhà Lê Thị Ngọc H2, nhóm Nguyễn Ngọc L6, Nguyễn Thị Hồng T, Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2, Nguyễn Thị T6, Võ Trương Ngọc T5, Dương Thị Kim C rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bài xì lát (bài tây 52 lá) ăn thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Sau đó, cả nhóm đi vào trong nhà của H2, H2 chuẩn bị 01 tấm vải, 01 dĩa bằng inox, 11 bộ bài tây 52 lá để cho L6, T, P, N, Thúy T2, T6, Ngọc T5, C đánh bạc với nhau. Cả nhóm thống nhất sau khi đánh bạc xong, Thúy T2 (là người làm cái) sẽ đưa tiền xâu cho H2, thắng Thúy T2 đưa cho H2 số tiền 400.000 đồng, thua Thúy T2 đưa cho H2 số tiền 300.000 đồng. L6, T, P, N, Thúy T2, T6, Ngọc T5, C cùng nhau đánh bạc đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện như đã nêu trên.
Tại Cơ quan điều tra, xác định thu giữ trên người Nguyễn Ngọc L6 số tiền 790.000 đồng dùng để đánh bạc; Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 700.000 đồng của Nguyễn Thị Hồng T dùng để đánh bạc; Thu giữ trên người Dương P số tiền 2.800.000 đồng dùng để đánh bạc; Thu giữ trên người Phạm Thị N số tiền 2.040.000 đồng dùng để đánh bạc; Thu giữ số tiền 5.600.000 đồng của Huỳnh Thị Thúy T2 dùng để đánh bạc, gồm: số tiền 5.000.000 đồng thu giữ trên người Thúy T2 và số tiền 600.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc của Thúy T2; Thu giữ trên người Nguyễn Thị T6 số tiền 2.800.000 đồng dùng để đánh bạc; Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 2.700.000 đồng của Võ Trương Ngọc T5 dùng để đánh bạc; Thu giữ số tiền 960.000 đồng của Dương Thị Kim Chi D để đánh bạc, gồm: số tiền 260.000 đồng thu giữ trên người C và số tiền 700.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc của C. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của L6, T, P, N, Thúy T2, T6, Ngọc T5, C là 18.390.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T, Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2, Lê Thị Ngọc H2 phạm tội “Đánh bạc”.
1.1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
1.2 Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Dương P 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị N 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
1.3 Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thúy T2 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
1.4 Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Ngọc H2 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các Nguyễn Ngọc L6, Dương Thị Kim C, Võ Trương Ngọc T5, Nguyễn Thị T6; tuyên hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Dương Thị Kim C, Võ Trương Ngọc T5, Nguyễn Thị T6 xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo.
- Ngày 18/11/2024 và ngày 29/11/2024, bị cáo Phạm Thị N kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 02/4/2024, bị cáo Nguyễn Quốc H3 nộp 02 đơn xin giảm nhẹ hình phạt; giấy khám bệnh của cháu Nguyễn Ngọc Bảo H4; giấy khai sinh của cháu Nguyễn Ngọc Bảo H4, Nguyễn Ngọc Mỹ D1.
- Ngày 27/11/2024, bị cáo Nguyễn Thị Hồng T kháng cáo xin hưởng án treo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền. Kèm theo đơn kháng cáo là Đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn, bản photo giấy khai sinh và các tài liệu liên quan đến việc điều trị bệnh. Ngày 03/01/2024, bị cáo Nguyễn Thị Hồng T nộp 01 đơn xin xem xét có xác nhận của chính quyền địa phương.
- Ngày 28/11/2024, bị cáo Dương P kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 28/11/2024, bị cáo Dương P nộp một đơn xin cứu xét có xác nhận của chính quyền địa phương.
- Ngày 28/11/2024, bị cáo Lê Thị Ngọc H2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xin hưởng án treo. Kèm theo đơn kháng cáo là Đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn, Giấy xác nhận tình trạng độc thân, các giấy khai sinh của bị cáo, con ruột bị cáo và cha ruột bị cáo, Bằng tổ quốc ghi công của ông nội – ông Lê Văn L7.
- Ngày 29/11/2024, bị cáo Huỳnh Thị Thúy T2 kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận:
- Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T, Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2 là đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt mức án đối với các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 07 (bảy) tháng tù, Dương P 05 (năm) tháng tù, Phạm Thị N 05 (năm) tháng tù, Huỳnh Thị Thúy T2 04 (bốn) tháng tù, Lê Thị Ngọc H2 04 (bốn) tháng tù là có căn cứ, phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội.
Đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T, Dương P và Phạm Thị N thấy rằng tại giai đoạn xét xử phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo mà giữ nguyên phần hình phạt như bản án sơ thẩm.
Đối với kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2 thấy rằng các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động duy nhất nuôi con nhỏ có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới ở giai đoạn phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng áp dụng Điều 65 cho các bị cáo hưởng án treo.
Các bị cáo không tham gia tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều có yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T, Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2 kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 24/6/2024, tại Khu phố A, phường M, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận, Nguyễn Ngọc L6, Nguyễn Thị Hồng T, Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2, Nguyễn Thị T6, Võ Trương Ngọc T5, Dương Thị Kim C cùng đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình thức chơi bài xì lát (bài tây 52 lá), với tổng số tiền đánh bạc là 18.390.000 đồng. Lê Thị Ngọc H2 cho mượn địa điểm để Nguyễn Ngọc L6, Nguyễn Thị Hồng T, Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2, Nguyễn Thị T6, Võ Trương Ngọc T5, Dương Thị Kim C đánh bạc ăn thua bằng tiền nhằm thu tiền xâu, chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” theo quy định của pháp luật.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Thị Hồng T, Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2 phạm các tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T; kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của các bị cáo Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[3.1] Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt các bị cáo mức án: Nguyễn Thị Hồng T 07 (bảy) tháng tù, Dương P 05 (năm) tháng tù, Phạm Thị N 05 (năm) tháng tù, Huỳnh Thị Thúy T2 04 (bốn) tháng tù, Lê Thị Ngọc H2 04 (bốn) tháng tù là là có căn cứ, phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.
[3.2] Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 03/01/2024 bị cáo T nộp đơn xin xem xét để được hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn, tuy nhiên trường hợp của bị cáo T do tái phạm nên không đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Bị cáo cũng không cung cấp thêm chứng cứ hay tình tiết giảm nhẹ nào mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T, giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên.
[3.3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2:
Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nghề nghiệp và nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tiền án, tiền sự. Ngoài ra trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các bị cáo có xuất trình giấy xác nhận hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên xét đủ điều kiện hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do đó, không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm, nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo theo yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm; do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T.
2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận về phần hình phạt đối với các bị cáo Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2.
3. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T, Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2, Lê Thị Ngọc H2 phạm tội “Đánh bạc”.
3.1 Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3.2 Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương P 05 (năm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25 - 02 - 2025).
Giao bị cáo Dương P cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
3.3 Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị N 05 (năm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25 - 02 - 2025).
Giao bị cáo Phạm Thị N cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
3.4 Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thúy T2 04 (bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25 - 02 - 2025).
Giao bị cáo Huỳnh Thị Thúy T2 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
3.5 Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Ngọc H2 04 (bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25 - 02 - 2025).
Giao bị cáo Lê Thị Ngọc H2 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
3.6 Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án - ngày 25 tháng 02 năm 2025.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Dương P, Phạm Thị N, Huỳnh Thị Thúy T2 và Lê Thị Ngọc H2)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nguyễn Văn Được |
Bản án số /2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: /2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng T và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc".
