Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày: 26-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Xuân Trường;

Ông Nguyễn Ngọc Giao.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mừng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn C, sinh năm 1975 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 3/12; con ông: Trần Văn T và bà Nguyễn Thị R (đều đã chết); vợ là Trần Thị O; có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 12 năm 2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn khác hiện tại ngoại tại địa phương theo lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”;

2. Phạm Văn K, sinh năm 1986 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm E, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 9/12; con ông: Phạm Văn N (đã chết) và bà Trần Thị L; vợ là Hoàng Thị Kim A; có 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 12 năm 2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn khác hiện tại ngoại tại địa phương theo lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”;

3. Đinh Văn T1, sinh năm 1968 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn G, huyện G, tỉnh Nam Định; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 7/10; con ông: Đinh Văn S (đã chết) và bà Cao Thị N1; vợ là Đinh Thị C1; có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 12 năm 2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn khác hiện tại ngoại tại địa phương theo lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”;

4. Nguyễn Văn H, sinh năm 1975 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 3/12; con ông: Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Đoàn Thị H1; vợ là Nguyễn Thị H2; có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 12 năm 2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn khác hiện tại ngoại tại địa phương theo lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 20-12-2024, Trần Văn C đang ở tàu chở ngao của mình neo đậu tại khu vực bến neo đậu tàu thuộc xóm H, xã G thì lần lượt Phạm Văn K, Đinh Văn T1 và Nguyễn Văn H đến ngồi chơi uống nước, sau đó C, K, T1, H thống nhất đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn tiền, mức đặt thấp nhất là 20.000 đồng, cao nhất là 200.000 đồng. Chín lấy vỏ bao thuốc là thăng long cắt làm 4 quân vị hình tròn, lấy 01 bát sứ và 01 đĩa sứ có sẵn trên tàu rồi 4 đối tượng ngồi đánh xóc đĩa ăn tiền với nhau. K là người xóc cái còn C, T1, H đặt cửa. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc tại tàu của Chín thì bị tổ công tác Công an xã G phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 12.330.000 đồng và các vật chứng có liên quan. Ngoài ra còn thu giữ của các đối tượng 05 điện thoại di động các loại, thu trên người Trần Văn C số tiền 8.600.000 đồng, thu trên người Phạm Văn K số tiền 11.000.000 đồng.

Tại phiên toà: Các bị cáo khai:

Bị cáo Trần Văn C khai nhận: Bị cáo là người cắt 4 quân bài vị. chuẩn bị 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, có 10.000.000 đồng, trong đó bỏ ra 1.400.000 đồng sử dụng để đánh bạc, còn lại 8.600.000đồng để trên người không sử dụng để đánh bạc.

Bị cáo Phạm Văn K khai nhận: Bị cáo là người trực tiếp xóc cái, mang theo 20.430.000 đồng trong đó bỏ ra 9.430.000 đồng sử dụng để đánh bạc, còn lại 11.000.000 cất trên người không sử dụng để đánh bạc.

Bị cáo Đinh Văn T1 khai nhận: Bị cáo mang theo 1.500.000 đồng, cho bị cáo H vay 500.000đồng còn lại 1.000.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc.

Bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận: Bị cáo vay của bị cáo T1 500.000 đồng sử dụng để đánh bạc.

Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS-GT ngày 25-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố các bị cáo Trần Văn C, Phạm Văn K, Đinh Văn T1 và Nguyễn Văn H về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Trần Văn C, Phạm Văn K, Đinh Văn T1 và Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; (khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo C và bị cáo K); Điều 65 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt Trần Văn C từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

+ Xử phạt Phạm Văn K từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

+ Xử phạt Đinh Văn T1 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ tháng 12 đến 18 tháng.

+ Xử phạt Nguyễn Văn H từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ tháng 12 đến 18 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Điều kiện kinh tế và thu nhập của các bị cáo khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 12.330.000 đồng thu giữ của các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Tịch thu cho tiêu hủy: 04 quân vị hình tròn, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ.

Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì. Trước khi HĐXX vào nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương và miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 20-12-2024, Công an xã G, huyện G tuần tra tại khu vực neo đậu tàu thuộc xóm H, xã G, huyện G phát hiện bắt quả tang trên tàu chở ngao của Trần Văn C có 4 đối tượng gồm Trần Văn C, Phạm Văn K, Đinh Văn T1 và Nguyễn Văn H đang đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa ăn tiền, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 12.330.000 đồng. Như vậy hành vi của các bị cáo Trần Văn C, Phạm Văn K, Đinh Văn T1 và Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu tới trật tự an ninh, trật tự xã hội. Cờ bạc là tệ nạn của xã hội, các bị cáo đều xác định được đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo cố ý thực hiện hành vi của mình, sát phạt nhau để thu lời bất chính. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với từng hành vi của mỗi bị cáo nhằm trừng trị giáo dục riêng đối với các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Xét vị trí, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án để đưa ra mức hình phạt phù hợp:

Về tính tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo C và bị cáo K có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo C là người đã để cho các đối tượng đánh bạc tại khoang lái tàu trên tàu của mình, cắt quân, chuẩn bị bát đĩa và trực tiếp tham gia đánh bạc nên giữ vai trò đầu, bị cáo K là người xóc cái cho cả 4 người chơi và có số tiền tham gia đánh bạc nhiều nhất nên giữ vai trò thứ hai, bị cáo H và T1 có vai trò ngang nhau.

[5] Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết buộc bị cáo phải tập trung cải tạo mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo kèm theo thời gian thử thách bởi bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có hướng tự cải tạo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cũng đủ răn đe giáo dục, như quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên toà cho thấy các bị cáo điều kiện gia đình khó khăn, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

- Đối với số tiền 12.330.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với 04 quân vị hình tròn, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ cần tịch thu cho tiêu hủy.

- Đối với số tiền 19.600.000 đồng và 05 điện thoại di động các loại đã thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị cáo là phù hợp.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn C, Phạm Văn K, Đinh Văn T1 và Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Trần Văn C 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 12 năm 2024).

+ Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 12 năm 2024).

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Đinh Văn T1 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời, gian thử thách thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án. (bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 12 năm 2024).

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (T2) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách thời gian thử thách là 16 tháng, tính từ ngày tuyên án. (bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 12 năm 2024).

Giao các bị cáo Trần Văn C, Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Phạm Văn K cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao Đinh Văn T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 12.330.000 đồng. Tịch thu cho tiêu hủy: 04 quân vị hình tròn, 01 bát sứ, 01 đĩa thu giữ của các bị cáo (Được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng và biên lai thu tiền số: 38/2025 lập ngày 26-02-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Trần Văn C, Phạm Văn K, Đinh Văn T1 và Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - CQĐT Công an huyện Giao Thủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Giao Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - UBND các xã Giao Xuân, Bình Hoà và UBND Thị trấn Giao Thuỷ ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Chín cùng đồng phạm "Đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger