|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày: 26-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Quốc Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Lập
Bà Trần Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hương Thảo – Thư ký TAND huyện Vũng Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử công khai trực tuyến với điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm và điểm cầu thành phần: Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Tạ Thị D, sinh ngày 01/01/1972; giới tính: Nữ; nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Tạ Văn Đ (chết) và bà Nguyễn Thị T (chết); chồng là Dương Minh H, sinh năm 1971; con có 02 người, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1999; tiền án: không, tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 09/9/2024, bị Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền là 7.500.000đ, về hành vi dùng nhà, chổ ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc. Đã nộp phạt xong ngày 11/10/2024; Bị cáo được cho tại ngoại và hiện có mặt tại phiên tòa.
- Lê Thị N, sinh ngày 01/7/1957; giới tính: Nữ; nơi cư trú: ấp Q, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Nội trợ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1935; chồng là Nguyễn Văn D1, sinh năm 1955; con có 05 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án: không, tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 03/9/2024, bị Công an xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000đ, về hành vi đánh bạc trái phép. Đã nộp phạt xong ngày 06/9/2024; Bị cáo được cho tại ngoại và hiện có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- Trương Thanh T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Trương Thị T2, sinh năm 1965 (vắng mặt)
- Cao Thị P, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện V, Vĩnh Long.
Nơi cư trú: ấp H, xã T, V, Vĩnh Long.
Nơi cư trú: ấp H, xã T, V, Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/9/2024, Tạ Thị D, Lê Thị N và Trương Thị T2 đi đến nhà của Trương Thanh T1 thuộc ấp P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long chơi. Khi đến nhà của T1 thì T1 rủ D, N và T2 chơi đánh bạc với hình thức đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền, mỗi người ngồi một tụ, bài tứ sắc có sẵn ở nhà của T1. Mỗi tụ bài được chia 20 lá bài, riêng tụ chia bài thì được chia 12 lá bài, 31 lá bài còn lại để trên chiếu bạc cho những người chơi kéo bài trong lúc chơi, người nào đánh hết bài rác trước thì thắng. Người thắng chia bài và đánh trước, ba người còn lại thua thì chung tiền, mỗi người đưa 10.000 đồng cho người thắng. Người nào thắng “Tới Q” (tụ bài có bốn lá bài tứ sắc cùng loại, cùng màu) thì ba người còn lại mỗi người đưa 20.000 đồng cho người “Tới Quan”. Khi chơi được 07 bàn bài thì thay một bộ bài, người nào thắng “Tới Quan” hoặc trong 07 bàn bài không có tụ bài nào “Tới Quan” thì người thắng ở bàn thứ bảy sẽ để số tiền 10.000 đồng vào cái hộp để trên chiếu bạc trước mặt của T1. Đến khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, Công an xã T đi kiểm tra, phát hiện và lập biên bản sự việc, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.450.000 đồng, số tiền 130.000 đồng trong hộp, 112 lá bài tứ sắc đã qua sử dụng và 15 bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng.
Qua điều tra đã xác định tổng số tiền những người chơi sử dụng đánh bạc là 1.580.000 đồng, cụ thể:
- Tạ Thị D sử dụng số tiền 500.000 đồng tham gia đánh bạc, kết quả thắng được số tiền 340.000 đồng.
- Lê Thị N sử dụng số tiền 200.000 đồng tham gia đánh bạc, kết quả thua số tiền 190.000 đồng.
- Trương Thanh T1 sử dụng số tiền 200.000 đồng tham gia đánh bạc, kết quả thắng được số tiền 130.000 đồng.
- Trương Thị T2 sử dụng số tiền 680.000 đồng tham gia đánh bạc, kết quả thua số tiền 400.000 đồng.
Quá trình điều tra, Tạ Thị D và Lê Thị N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Về vật chứng:
Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 1.450.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc, số tiền 130.000 đồng trong hộp, 112 lá bài tứ sắc đã qua sử dụng và 15 bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng.
Đối với Trương Thanh T1 và Trương Thị T2 do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên đã bị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính, cụ thể: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Thị T2 số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Trương Thanh T1 bị Công an huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 9.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép và hành vi Dùng nhà ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc.
Cáo trạng số: 03/CT-VKSHVL ngày 23/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm đã truy tố Tạ Thị D và Lê Thị N về tội: Đánh bạc; theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Tạ Thị D và Lê Thị N; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, để tuyên phạt Tạ Thị D mức án từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung với số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, để tuyên phạt Lê Thị N mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 112 lá bài tứ sắc đã qua sử dụng và 15 bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng. Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 1.450.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc, số tiền 130.000 đồng trong hộp do các bị cáo và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Tạ Thị D và Lê Thị N đã thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của điều tra viên, kiểm sát viên và lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và các chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, qua lời khai của các bị cáo đã thể hiện: ngày 30/9/2024, tại nhà của Trương Thanh T1 thuộc ấp P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, Trương Thanh T1, Tạ Thị D, Lê Thị N và Trương Thị T2 đã tiến hành đánh bạc với hình thức đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 1.580.000 đồng (Một triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng). Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Tạ Thị D và Lê Thị N đã phạm vào tội: Đánh bạc; theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật tham gia sát phạt nhau chỉ vì lợi ích của bản thân. Hành vi của các bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, nên đối với các bị cáo cần xử lý nghiêm để phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo N có chồng là người có công với cách mạng, bị cáo D có anh ruột là liệt sĩ, nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo N có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Đối với bị cáo D để đảm bảo tính ngăn đe, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo với số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.
[5] Về vật chứng:
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, vật chứng gồm: 112 lá bài tứ sắc đã qua sử dụng và 15 bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng, đây là công cụ các bị cáo và các đối tượng Trương Thanh T1, Trương Thị T2 dùng thực hiện tội phạm, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.580.000 đồng (Một triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng), trong đó: Số tiền 1.450.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc, số tiền 130.000 đồng trong hộp, được các bị cáo và các đối tượng Trương Thanh T1, Trương Thị T2 dùng vào việc đánh bạc, nên cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước. (Theo giấy nộp tiền ngày 27/12/2024 của Công an huyện V nộp tại Ngân hàng N1, tỉnh Vĩnh Long, chi nhánh huyện V)
[6] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các chứng cứ được đưa ra thẩm tra tại phiên tòa, đã đánh giá đúng hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo. Về đề nghị mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo. Do đó, chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
[7] Về án phí: Bị cáo D phải nộp tiền án phí theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Do bị cáo Lê Thị N là người cao tuổi, nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo N được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẻ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Tạ Thị D và bị cáo Lê Thị N phạm tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
- Về hình phạt bổ sung:
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử phạt: Bị cáo Tạ Thị D: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 (hai) năm được tính từ ngày tuyên án 26/02/2025.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, cùng gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chịu thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị N: 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện V nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Q trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Phạt tiền bị cáo D với số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.
Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo N.
Tịch thu tiêu hủy: 112 lá bài tứ sắc đã qua sử dụng và 15 bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng.
Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 1.580.000 đồng (Một triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng).
Buộc bị cáo D phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo N.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu phúc thẩm xét xử lại.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Quốc Hiếu |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
