Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày: 24 – 02 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đình Bảy;

Ông Phạm Ngọc Vinh;

Ông Trần Thanh Liên.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Quốc Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Diễm M, giới tính: nữ; sinh ngày 17 tháng 7 năm 1990, tại thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam;dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nhân viên y tế; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Minh P (sinh năm: 1963) và bà Nguyễn Thị H (sinh năm: 1965); bị cáo là con đầu trong 03 người con; chồng là Đinh Công N (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/10/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Diễm M theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư Nguyễn S - Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: Lô S, đường N, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

Bị hại:

  1. Bà Võ Thị Diễm H1; sinh năm 1982; địa chỉ: Khối phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh D; sinh năm 1987; địa chỉ: Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  3. Bà Hoàng Thị Hằng L; sinh năm 1986; địa chỉ: Khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  4. Bà Huỳnh Thị M1; sinh năm 1959; địa chỉ: khối phố Phương Hòa N phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  5. Bà Nguyễn Hồng N1; sinh năm 1972; địa chỉ: Khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  6. Bà Thân Thị Thu M2; sinh năm 1968; địa chỉ: Khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  7. Bà Nguyễn Thị X; sinh năm 1990; địa chỉ: Khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Hoàng Văn L1, sinh năm 1972; địa chỉ: Khối phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  2. Bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1973; địa chỉ: Khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  3. Bà Phan Thị Khánh L2, sinh năm 1990; địa chỉ: Khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  4. Bà Trương Thị P1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  5. Ông Dương Quốc H2, sinh năm 1984; địa chỉ: Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  6. Ông Mạc Đình Q, sinh năm 1991; địa chỉ: Khối phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Bà Phạm Thị Như H3, sinh năm 1987; địa chỉ: Khối phố M, phường T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1965; địa chỉ: Số A L, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2017, để có tiền trả các khoản nợ vay của bà Nguyễn Thị H (là mẹ ruột của Nguyễn Thị Diễm M) và để chi tiêu sinh hoạt trong gia đình nên Nguyễn Thị Diễm M đã vay tiền của nhiều người. Từ năm 2021 đến tháng 5/2023, do không có tiền trả nợ, M đưa ra thông tin gian dối cần tiền góp vốn để kinh doanh mua bán vật tư y tế để nhiều người cùng góp vốn hoặc cho M vay mượn tiền. Sau khi nhận được tiền của các bị hại, Nguyễn Thị Diễm M đã chiếm đoạt và sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân, cụ thể:

  1. Bà Võ Thị Diễm H1: Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 4/2023, bà H1 tin tưởng nên đưa tiền cho M nhiều lần để góp vốn mua bán vật tư y tế với tổng số tiền 331.400.000 đồng (ba trăm ba mươi mốt triệu, bốn trăm nghìn đồng). Ngoài ra, M còn nói dối với bà H1 là cần mượn tiền giúp bạn nên bà H1 đưa cho M 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). M chưa trả được khoản nào cho bà H1 và lấy lý do cộng gộp tiền lợi nhuận vào tiền gốc để mua đơn hàng vật tư y tế sau để bà H1 tiếp tục đưa tiền cho M góp vốn làm ăn. Tổng số tiền M chiếm đoạt của bà H1 là 361.400.000 đồng (ba trăm sáu mươi mốt triệu, bốn trăm nghìn đồng).
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh D: Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 4/2023, bà D tin tưởng nên đưa tiền cho M nhiều lần để góp vốn mua bán vật tư y tế với tổng số tiền 775.990.000 đồng (bảy trăm bảy mươi lăm triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng). M đã trả cho bà D nhiều lần tổng số tiền 175.990.000 đồng (một trăm bảy mươi lăm triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng) với lý do trả tiền lời nhuận kinh doanh vật tư y tế để bà D tin tưởng tiếp tục đưa tiền cho M để góp vốn làm ăn. Tổng số tiền M chiếm đoạt của bà D là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng).
  3. Bà Hoàng Thị Hằng L: Từ đầu năm 2021 đến tháng 4/2023, bà L nhiều lần đưa tiền góp vốn cho M với tổng số tiền là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). M nhiều lần đưa lại cho bà L với tổng số tiền 75.812.000 đồng (bảy mươi lăm triệu, tám trăm mười hai nghìn đồng) và nói đó là tiền lợi nhuận để bà L tin tưởng tiếp tục đưa tiền góp vốn cho M.

    Ngày 29/3/2023, Nguyễn Thị Diễm M hỏi mượn bà L bộ trang sức bằng vàng của bà L để đi dự tiệc khai trương cửa hàng, ngày 30/3/2023 bà L đưa cho M 01 bộ trang sức bằng vàng gồm 05 món (01 vòng tay; 01 dây chuyền; 01 nhẫn; 01 mặt dây chuyền; 01 đôi hoa tai) trị giá 21.664.100 đồng (hai mươi mốt triệu, sáu trăm sáu mươi bốn nghìn, một trăm đồng). Chiều ngày 01/4/2023, M đem toàn bộ số trang sức trên đến cầm cố tại hiệu vàng Ngọc Thảo ( do ông Hoàng Văn L1, sinh năm 1972; địa chỉ: Khối phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam làm chủ) lấy số tiền 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) để tiêu xài cá nhân, M đã bồi thường cho ông L1 500.000 đồng, còn lại 17.500.000 đồng.

    Tổng số tiền M đã chiếm đoạt của bà L1 là 245.852.100 đồng (hai trăm bốn mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi hai nghìn, một trăm đồng).

  4. Bà Huỳnh Thị M1: Từ tháng 01/2022 đến tháng 4/2023, bà M1 nhiều lần cho M vay tiền với lý do buôn bán vật tư y tế với tổng số tiền 290.000.000 đồng (hai trăm chín mươi triệu đồng). Trong thời gian này, hàng tháng M đều trả gốc và lãi cho bà M1 với tổng số tiền 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng) để bà M1 tin tưởng tiếp tục cho M vay tiền. Tổng số tiền M đã chiếm đoạt của bà M1 là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
  5. Bà Nguyễn Hồng N1: Từ tháng 6/2022 đến tháng 4/2023, bà N1 nhiều lần cho M mượn tiền (không thoả thuận lãi suất) với lý do buôn bán vật tư y tế với tổng số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng). Trong thời gian này, M cũng nhiều lần trả tiền cho bà N1 với tổng số tiền 239.900.000 đồng (hai trăm ba mươi chín triệu, chín trăm nghìn đồng) và nói với bà N1 là M buôn bán có lợi nhuận nên trả lãi để bà N1 tin tưởng tiếp tục cho M mượn tiền. Tổng số tiền M chiếm đoạt của bà N1 là 160.100.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu, một trăm nghìn đồng).
  6. Bà Thân Thị Thu M2: Tháng 3, 4/2023, bà M2 đã 05 lần cho M mượn tiền (có trả lãi) để buôn bán vật tư y tế với tổng số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). M đã trả lãi cho bà M2 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). Tổng số tiền M chiếm đoạt của bà M2 là 66.000.000 đồng (sáu mươi sáu triệu đồng).
  7. Bà Nguyễn Thị X: Ngày 15/11/2022, bà X cho M mượn 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) với lý do mở cửa hàng vật tư y tế tại huyện D (thực tế không có việc mở cửa hàng này). M đã trả lại cho bà X 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Tổng số tiền M đã chiếm đoạt của bà X 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Như vậy, trong thời gian từ năm 2021 đến tháng 5/2023, Nguyễn Thị Diễm M đã chiếm đoạt của 07 người bị hại với tổng số tiền 1.658.352.100 đồng (một tỷ, sáu trăm năm mươi tám triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, một trăm đồng).

Ngoài những bị hại nêu trên, Nguyễn Thị Diễm M còn vay mượn tiền của Phan Thị Khánh L2 và bà Ngô Thị Đ, xét thấy: M thỏa thuận nhiều lần vay tiền của L2, ba Đ và trả lãi định kỳ, M không đưa thừa nhận việc ra thông tin gian dối (mua bán vật tư y tế) để chiếm đoạt tiền của L2 và bà Đ. Không có tài liệu, chứng cứ chứng minh M dùng lý do gian dối kinh doanh vật tư y tế để vay tiền của L2 và bà Đ. Bà Ngô Thị Đ thừa nhận bà Đ cho M vay tiền lấy lãi không quan tâm lý do sử dụng tiền vay, M không đưa ra thông tin mua bán vật tư y tế để vay tiền mà chỉ kể lại khi trò chuyện với bà Đ. Do vậy, không có căn cứ để xác định M lừa đảo chiếm đoạt tiền của Phan Thị Khánh L2 và bà Ngô Thị Đ.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • - 01 (một) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Võ Thị Diễm H1.
  • - 01 (một) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Nguyễn Thị Thanh D.
  • - 09 (chín) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Huỳnh Thị M1.
  • - 05 (năm) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Nguyễn Hồng N1.
  • - 02 (hai) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Ngô Thị Đ.
  • - 01 (một) “Giấy bảo đảm bán vàng”.
  • - 01 (một) “Giấy mượn tiền, gửi vàng” của tiệm V.
  • - 01 (một) Giấy viết tay có nội dung Nguyễn Thị Diễm M xác nhận mượn bộ trang sức của bà Hoàng Thị Hằng L.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) bộ trang sức 05 món (gồm 01 vòng tay; 01 dây chuyền; 01 nhẫn; 01 mặt dây chuyền; 01 đôi hoa tai) và đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu là bà Hoàng Thị Hằng L.

* Kết quả giám định:

  • - Kết luận giám định 113/KL-KTHS(TL) ngày 23/8/2023 và Kết luận giám định số 249/KL-KTHS(TL) ngày 02/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Thị Diễm M trong 16 “Giấy mượn tiền” nêu trên (trừ Giấy mượn tiền giữa M và bà Đ) và chữ ký, chữ viết trên các tài liệu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.
  • - Kết luận giám định số 1171/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định: Bộ trang sức 05 món (gồm 01 vòng tay; 01 dây chuyền; 01 nhẫn; 01 mặt dây chuyền; 01 đôi hoa tai) nêu trên có hàm lượng vàng (A) từ 61% đến 68%, còn lại là các kim loại đồng (Cu), bạc (A), kẽm (Z). Kết luận định giá tài sản số 58/KL-HDĐGTS ngày 12/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Bộ trang sức 05 món nêu trên có tổng giá trị là 21.664.100 đồng (hai mươi mốt triệu, sáu trăm sáu mươi bốn nghìn, một trăm đồng).

Tại bản Cáo trạng số: 124/CT-VKSQN-P2 ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Diễm M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Diễm M, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Diễm M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diễm M từ 12 năm đến 13 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Đề nghị buộc Nguyễn Thị Diễm M có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bà Võ Thị Diễm H1, bà Nguyễn Thị Thanh D, bà Hoàng Thị Hằng L, bà Huỳnh Thị M1, bà Nguyễn Hồng N1, bà Thân Thị Thu M2, bà Nguyễn Thị X số tiền đã chiếm đoạt còn lại.
  • - Đề nghị buộc Nguyễn Thị Diễm M có trách nhiệm bồi thường cho ông Hoàng Văn L1 (chủ tiệm V) số tiền 17.500.000 đồng (mười bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) đối với số tiền cầm bộ trang sức vàng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • - Lưu theo hồ sơ vụ án đối với:
    • + 16 (mười sáu) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Võ Thị Diễm H1, Nguyễn Thị Thanh D, Huỳnh Thị M1, Nguyễn Hồng N1.
    • + 01 (một) “Giấy bảo đảm bán vàng”; 01 (một) “Giấy mượn tiền, gửi vàng” của tiệm V; 01 (một) Giấy viết tay có nội dung Nguyễn Thị Diễm M xác nhận mượn bộ trang sức của bà Hoàng Thị Hằng L.
  • - Trả lại cho bà Ngô Thị Đ đối với 02 (hai) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Ngô Thị Đ.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Diễm M trình bày luận cứ: Thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố và luận tội của Kiểm sát viên về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, nguyên nhân bị cáo phạm tội là do nợ nần của mẹ bị cáo; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự thú khai ra các lần chiếm đoạt tiền của bị hại; trong quá trình chiếm đoạt tiền bị cáo có trả cho các bị hại một phần; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; gia đình bị cáo có công với cách mạng; quá trình công tác bị cáo được công nhận hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, chồng đã ly hôn, bị cáo có 02 con còn nhỏ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Diễm M thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

Các bị hại yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật, đồng thời buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt còn lại cho các bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Diễm M khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến tháng 5/2023, do cần tiền để trả nợ Nguyễn Thị Diễm M đã đưa ra thông tin gian dối là M có kinh doanh mua bán vật tư y tế để những người bị hại tin tưởng góp tiền cùng M kinh doanh hoặc cho M vay mượn tiền để kinh doanh. Bằng thủ đoạn nêu trên, Nguyễn Thị Diễm M đã chiếm đoạt của 07 bị hại với tổng số tiền là 1.658.352.100 đồng (một tỷ, sáu trăm năm mươi tám triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, một trăm đồng) sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân, bao gồm: Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Thanh D 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng), bà Võ Thị Diễm H1 361.400.000 đồng (ba trăm sáu mươi mốt triệu, bốn trăm nghìn đồng), bà Hoàng Thị Hằng L 245.852.100 đồng (hai trăm bốn mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi hai nghìn, một trăm đồng), bà Huỳnh Thị M1 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), bà Nguyễn Hồng N1 160.100.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu, một trăm nghìn đồng), bà Thân Thị Thu M2 66.000.000 đồng (sáu mươi sáu triệu đồng), bà Nguyễn Thị X 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

    Hành vi và hậu quả nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Diễm M đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 như bản Cáo trạng truy tố số: 124/CT-VKSQN-P2 ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. [3] Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do đó, bất kỳ người nào có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật để nhận thức điều đó nhưng vì động cơ vụ lợi và thiếu ý thức tôn trọng pháp luật nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của các bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, tạo ra tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.
  4. [4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án thì thấy:
    1. [4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    2. [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

      Trong quá trình điều tra, và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã chủ động đến Công an thành phố T đầu thú về hành vi lừa đảo chiếm đoạt bộ trang sức của Hoàng Thị Hằng L; gia đình bị cáo có công với cách mạng: có ông nội Nguyễn T là Liệt sĩ, bà nội Nguyễn Thị T1 được Hội đồng Bộ trưởng tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, ông ngoại là Liệt sĩ Nguyễn Xuân H4, có các bà cố là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị T2 và Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Đoàn Thị P2; bị cáo đã bồi thường cho tiệm cầm đồ Ngọc T3 số tiền 500.000 đồng, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  5. [5] Về loại hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm theo như đề nghị của Kiểm sát viên. Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hiện tại đang chấp hành hình phạt tù nên không phạt tiền bổ sung.
  6. [6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, các bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Diễm M bồi thường số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể: Bà Nguyễn Thị Thanh D 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng), bà Võ Thị Diễm H1 361.400.000 đồng (ba trăm sáu mươi mốt triệu, bốn trăm nghìn đồng), bà Hoàng Thị Hằng L 245.852.100 đồng (hai trăm bốn mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi hai nghìn, một trăm đồng), bà Huỳnh Thị M1 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), bà Nguyễn Hồng N1 160.100.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu, một trăm nghìn đồng), bà Thân Thị Thu M2 66.000.000 đồng (sáu mươi sáu triệu đồng), bà Nguyễn Thị X 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Do đó, căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của các bị hại, buộc bị cáo Nguyễn Thi Diễm M3 phải có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại số tiền đã yêu cầu trên.

    Đối với bộ trang sức bằng vàng mà bị cáo M3 lừa đảo chiếm đoạt của bà Hoàng Thị Hằng L, M3 mang đến cầm cố tại hiệu vàng Ngọc Thảo (do ông Hoàng Văn L1 làm chủ) lấy số tiền 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng). Cơ quan điều tra đã thu giữ bộ trang sức bằng vàng trả lại cho chủ sở hữu là bà Hoàng Thị Hằng L. Bị cáo M3 đã bồi thường cho ông Hoàng Văn L1 số tiền 500.000 đồng, còn lại số tiền 17.500.000 đồng ông L1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Xét yêu cầu của ông L1 là có căn cứ nên buộc bị cáo M3 phải bồi thường số tiền này.

  7. [7] Về xử lý vật chứng:

    Xét thấy đối với 01 (một) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Võ Thị Diễm H1; 01 (một) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Nguyễn Thị Thanh D; 09 (chín) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Huỳnh Thị M1; 05 (năm) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Nguyễn Hồng N1; 02 (hai) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Ngô Thị Đ; 01 (một) “Giấy bảo đảm bán vàng”; 01 (một) “Giấy mượn tiền, gửi vàng” của tiệm V; 01 (một) Giấy viết tay có nội dung Nguyễn Thị Diễm M xác nhận mượn bộ trang sức của bà Hoàng Thị Hằng L, đây là các chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo, do đó cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

    Đối với 01 (một) bộ trang sức 05 món (gồm 01 vòng tay; 01 dây chuyền; 01 nhẫn; 01 mặt dây chuyền; 01 đôi hoa tai), Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ và đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu là bà Hoàng Thị Hằng L.

  8. [8] Về án phí: Nguyễn Thị Diễm M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Diễm M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diễm M 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 07/10/2023).

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị Diễm M có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho các bị hại, cụ thể:

    • - Bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thanh D 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng).
    • - Bồi thường cho bà Võ Thị Diễm H1 361.400.000 đồng (ba trăm sáu mươi mốt triệu, bốn trăm nghìn đồng).
    • - Bồi thường cho bà Hoàng Thị Hằng L 245.852.100 đồng (hai trăm bốn mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi hai nghìn, một trăm đồng).
    • - Bồi thường cho bà Huỳnh Thị M1 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
    • - Bồi thường cho bà Nguyễn Hồng N1 160.100.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu, một trăm nghìn đồng).
    • - Bồi thường cho bà Thân Thị Thu M2 66.000.000 đồng (sáu mươi sáu triệu đồng).
    • - Bồi thường cho bà Nguyễn Thị X 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị Diễm M có nghĩa vụ bồi thường cho ông Hoàng Văn L1 (chủ tiệm V) số tiền 17.500.000 đồng (mười bảy triệu, năm trăm nghìn đồng).

    Tổng cộng số tiền bị cáo Nguyễn Thị Diễm M phải bồi thường là 1.675.852.100 đồng (một tỷ, sáu trăm bảy mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi hai nghìn, một trăm đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và các bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Thị Diễm M không thi hành số tiền nêu trên thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
    • - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án đối với: 01 (một) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Võ Thị Diễm H1; 01 (một) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Nguyễn Thị Thanh D; 09 (chín) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Huỳnh Thị M1; 05 (năm) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Nguyễn Hồng N1; 01 (một) “Giấy bảo đảm bán vàng”; 01 (một) “Giấy mượn tiền, gửi vàng” của tiệm V; 01 (một) Giấy viết tay có nội dung Nguyễn Thị Diễm M xác nhận mượn bộ trang sức của bà Hoàng Thị Hằng L.
    • - Trả lại cho bà Ngô Thị Đ 02 (hai) “Giấy mượn tiền” của Nguyễn Thị Diễm M với bà Ngô Thị Đ.
  4. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị Diễm M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 62.275.563 (sáu mươi hai triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn, năm trăm sáu mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/02/2025). Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các cơ quan tiến hành tố tụng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Phòng HSNV Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Tấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố tội phạm và xử phạt bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger