Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 24 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Tiêm, bà Bồ Thị Thái.

Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phùng Duy Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Sa L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 22/11/2002, tại xã M, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tiểu khu N, xã M, tỉnh Sơn La; nơi tạm trú: Thôn M, xã N, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện tại: Tổ A Q, phường T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn Q (Đã chết) và bà Sa Thị K; vợ Hà Ngọc B, sinh năm 2004 và 01 con sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2025 cho đến nay, có mặt.

  2. Trần Huy Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03/8/1995, tại xã M, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Tiểu khu T, xã M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Trần Huy L1 và bà Đỗ Thị B1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2025 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Hà Ngọc B, sinh năm 2004, địa chỉ: Tổ A Q, phường T, tỉnh Sơn La, có mặt.
  2. Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1992, địa chỉ: Tiểu khu N, xã M, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 30 phút, ngày 03/6/2025, Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là tổ A Q, phường T, tỉnh Sơn La) phát hiện bắt quả tang Nguyễn Sa L đang có biểu hiện phạm tội liên quan đến ma tuý. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Sa L tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói màu trắng, bên trong có chứa 36 viên nén màu hồng và khai nhận là ma tuý, loại H phiến cất giấu với mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại IPHONE Xs màu vàng, bên trong lắp sim số 0364.267.155.

Ngày 04/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Sa Văn L2 tại bản G, phường T, tỉnh Sơn La, kết quả khám xét thu giữ: 01 túi ba lô màu đen bên trong có chứa 106 viên nén màu hồng, nghi là ma tuý tổng hợp.

Hồi 14 giờ 50 phút, ngày 04/6/2025 tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh S chủ trì phối hợp với Công an xã C, huyện M tiến hành kiểm tra, rà soát các đối tượng sử dụng ma tuý trên địa bàn tiểu khu T. Quá trình kiểm tra tại nhà của Trần Huy Đ, trú tại tiểu khu T, xã M, tỉnh Sơn La, Đ tự giác giao nộp 01 gói nilon màu xanh, có khoá díp, bên trong chứa 71 viên nén màu hồng, Đ khai nhận là ma tuý tổng hợp, loại H phiến cất giữ với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Huy Đ, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định. Ngoài ra thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO (đã qua sử dụng).

Ngày 04/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S phối hợp với Phòng K1 Công an tỉnh S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Nguyễn Sa L, Trần Huy Đ, kết quả như sau:

  • 36 viên nén hình trụ tròn màu hồng trong gói giấy trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Sa L có tổng khối lượng là 3,57 gam, trích 05 viên có khối lượng 0,49 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu ký hiệu A2, còn lại 31 viên có khối lượng 3,08 gam làm vật lưu kho, ký hiệu A1.
  • 106 viên nén hình trụ tròn màu hồng trong gói nilon màu xanh than thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Sa L có tổng khối lượng là 10,64 gam, trích 05 viên có khối lượng 0,48 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu ký hiệu A2, còn lại 101 viên có khối lượng 10,16 gam làm vật lưu kho, ký hiệu A1.
  • 71 viên nén hình trụ tròn màu hồng thu giữ của Trần Huy Đ có tổng khối lượng 7,18 gam, trích 0,50 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu ký hiệu M, còn lại 6,68 gam làm vật chứng lưu kho, ký hiệu T

Tại Kết luận giám định số 647/KL-KTHS ngày 09/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Khối lượng gửi giám định là 0,49 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 3,57 gam, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 648/KL-KTHS ngày 09/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Khối lượng gửi giám định là 0,48 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 10,64 gam, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 659/KL-KTHS ngày 13/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Khối lượng gửi giám định là 0,50 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 7,18 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Sa L, Trần Huy Đ khai nhận:

Bản thân thường xuyên sử dụng chất ma túy và có quan hệ quen biết. Khoảng tháng 01/2025 Nguyễn Sa L đến bản L, xã P, huyện Y (nay là bản L, xã P, tỉnh Sơn La), chơi ở khu vực biên giới giữa nước Việt Nam – Lào có quen một người nam giới nói tiếng dân tộc Mông. Qua trao đổi L biết người này có ma tuý bán.

Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 01/6/2025 L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu sơn xanh biển kiểm soát 26B1-883.78 (Lực mượn xe của anh họ là Nguyễn Thành C) đến nhà Đ ở tiểu khu T, xã M, tỉnh Sơn La rủ Đ cùng đi sang Lào mua 02 túi hồng phiến về sử dụng và bán kiếm lời, do Đ không có tiền nên không đi nhưng L bảo sẽ lấy tiền của L mua trước, khi nào Đ có tiền thì trả một nửa số tiền mua ma tuý cho L sau, Đ đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe máy chở Đ đi đến khu vực biên giới. Khoảng 02 giờ ngày 02/6/2025 L và Đ đến nhà người nam giới L quen từ trước rồi cùng gặp và mua được 02 túi nilon màu xanh, bên trong chứa các viên nén Hồng phiến với số tiền 2.400.000 đồng, mua được ma tuý L đưa cho Đ cầm và rủ Đ đi mua H1 về bán kèm với hồng phiến, Đ không đồng ý nên L điều khiển xe máy chở Đ theo đường cũ quay về. Đến khu vực xã P, tỉnh Sơn La, Đ đưa cho L 01 túi ma tuý Hồng phiến, cả hai thống nhất mỗi túi là 1.200.000 đồng, L cầm túi ma tuý cất trong túi quần đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe máy đi về. Khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, L đưa Đ về nhà rồi quay đi trả xe cho anh Nguyễn Thành C, rồi đón xe buýt về nhà bố vợ tại bản G, phường T, tỉnh Sơn La. Tại đây, L cất giấu gói ma tuý trong chiếc ba lô màu đen để trong phòng khách gần giường ngủ của gia đình, sau đó, nhiều lần L lấy ma tuý hồng phiến ra để sử dụng bằng hình thức đốt, hít.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 03/6/2025 khi L đang ở nhà bố mẹ vợ thì có số điện thoại di động 0364.482.xxx gọi vào số thuê bao 0364.267.155 của L hỏi mua hồng phiến với số tiền 2.000.000 đồng, L nhất trí và hẹn sẽ trao đổi mua bán ma tuý tại ngõ C gần cổng chào tổ A Q, phường T. L lấy 36 hồng phiến từ túi hồng hồng phiến đã mua dùng mảnh giấy trắng gói lại, cất giấu trong túi quần rồi đi bộ đến điểm hẹn, thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh S bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Đối với Trần Huy Đ, trong thời gian từ ngày 02/6/2025 đến ngày 04/6/2025, Đ đã nhiều lần lấy túi Hồng phiến ra sử dụng bằng hình thức đốt hít. Số ma tuý (Hồng phiến) chưa sử dụng đến Đ cất giấu trong túi quần mục đích để sử dụng và ai hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Do chưa đủ trả tiền mua ma tuý nên ngày 02/6/2025 Đ đã chuyển vào tài khoản trả cho L 400.000 đồng và nợ lại 800.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 04/6/2025, khi Đ đang ở nhà thì tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý bắt giữ, Đ tự giác giao nộp gói ma tuý (Hồng phiến) còn lại.

Cáo trạng số 14/CT-VKS –KV1 ngày 29/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La truy tố Nguyễn Sa L, Trần Huy Đ về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý, theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sa L, Trần Huy Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  1. Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Sa L từ 11 năm đến 11 năm, 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Nguyễn Sa L.
  2. Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Huy Đ từ 10 năm, 06 tháng đến 11 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Trần Huy Đ.
  3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, bên trong gồm 31 viên hồng phiến + 01 mảnh giấy màu trắng; 01 phong bì niêm phong, bên trong gồm 101 viên hồng phiến + 01 túi nilon màu xanh than; 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh, một đầu có díp khoá chứa 6,68 gam, ký hiệu T; 01 chiếc ba lô màu đen có dòng chữ KUROMI.

    Trả lại cho chị Hà Bích N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE XS, vỏ màu vàng lắp thẻ sim số 0364.267.155 (Đã qua sử dụng).

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, vỏ màu đen, lắp sim số 0982.971.573 thu giữ của Trần Huy Đ.

  4. Về án phí: Áp dụng điểm khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án, các bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì tranh luận đối với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Bích N, Nguyễn Thành C không có ý kiến gì tranh luận.

Trong lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Sơn La, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt áp dụng:

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan điều tra. Số ma tuý thu giữ do các bị cáo cùng nhau mua của người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên tuổi địa chỉ) tại khu vực biên giới giữa nước Việt Nam – Lào với số tiền 2.400.000 đồng mục đích để sử dụng và bán kiểm lời, ngày 03/6/2025 Nguyễn Sa L đang chuẩn bị bán ma tuý để kiếm lời thì bị Tổ công tác Công an tỉnh S bắt giữ; ngày 04/6/2025 Trần Huy Đ đang cất giữ trái phép ma tuý mục đích để sử dụng và bán kiếm lời thì bị bắt giữ.

Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an tỉnh S lập vào hồi 23 giờ 30 phút, ngày 03/6/2025 đối với Nguyễn Sa L và hồi 15 giờ 00 phút, ngày 04/6/2025 đối với Trần Huy Đ; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật; biên bản xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định; bản kết luận giám định số 647, 648, 659 ngày 09/6/2025 và ngày 13/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu A2, M là ma túy; loại Methamphetamine. Lời khai của các bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, đúng với hành vi đã thực hiện, phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Nguyễn Sa L, Trần Huy Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc mua bán ma tuý bị Nhà nước nghiêm cấm. Ngày 01/6/2025 và 02/6/2025 các bị cáo đã cùng nhau mua trái phép tổng khối lượng 21,39 gam Methamphetamine để sử dụng và bán kiếm lời. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Sa L, Trần Huy Đ đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm i “ Heroine, C, M, AMDA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” thuộc khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Phân hóa vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Nguyễn Sa L là người khởi xướng, rủ rê Trần Huy Đ đi mua ma túy để mang về sử dụng và bán kiếm lời, là người sử dụng phương tiện, sử dụng tiền và người trực tiếp trao đổi mua bán ma túy. Trần Huy Đ khi được L rủ đi mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời đã đồng tình, sau khi mua được ma tuý đã cất giữ trong người. Các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm, cần áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, khi lượng hình cần đánh giá với mức độ tham gia và nhân thân của từng bị cáo.

Về tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã xâm phạm chế độ, chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm và trong quá trình giải quyết vụ án là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Trần Huy Đ có ông ngoại là ông Đỗ Tràng D được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng đều là đối tượng nghiện chất ma túy.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian trên mức của đại diện Viện kiểm sát đề nghị để tương xứng với tính chất mức độ hành vi của các bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung, phù hợp với quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng các bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với: 01 phong bì niêm phong, bên trong gồm 31 viên hồng phiến + 01 mảnh giấy màu trắng; 01 phong bì niêm phong, bên trong gồm 101 viên hồng phiến + 01 túi nilon màu xanh than; 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh, một đầu có díp khoá chứa 6,68 gam, ký hiệu T; 01 chiếc ba lô màu đen có dòng chữ KUROMI. Xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, vỏ màu đen, gắn sim số thuê bao 0982.971.573 thu giữ của bị cáo Trần Huy Đ, kết quả điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo Đ, sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE XS, vỏ màu vàng, gắn sim số thuê bao 0364.267.155 thu giữ của bị cáo Nguyễn Sa L, kết quả điều tra xác định điện thoại, sim nêu trên là tài sản thuộc quyền sở hữu của Hà Bích N (vợ bị cáo L), việc L sử dụng điện thoại để liên lạc trao đổi thực hiện hành vi phạm tội, chị B không biết nên không liên quan, chị B đề nghị Hội đồng xét xử trả lại tài sản cho chị là phù hợp, cần chấp nhận.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, màu sơn xanh, biển kiểm soát 26B1-883.78, kết quả xác minh là tài sản của anh Nguyễn Thành C trú tại tiểu khu N, xã M, tỉnh Sơn La (anh họ của L), việc L mượn xe máy của anh C sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, anh C không biết, không tham gia. Cơ quan điều tra không thu giữ vật chứng là có căn cứ, cần chấp nhận.

[6] Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ Nguyễn Sa L, Trần Huy Đ khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên tuổi, địa chỉ) tại khu vực gần biên giới Việt Nam – Lào. Ngoài lời khai của L và Đ, Cơ quan điều tra không thu thập thêm tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án. Do đó, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ số ma tuý đã bị thu giữ.

Đối với người đàn ông sử dụng số thuê bao 0364.482.660 gọi điện cho L để trao đổi, mua bán ma túy vào ngày 03/6/2025. Kết quả điều tra chủ thuê bao đã đăng ký sử dụng là Vương Thị N1, sinh năm 1960, trú tại tiểu khu B, xã M, tỉnh Sơn La. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành xác minh, Vương Thị N1 khai nhận không biết và không sử dụng số thuê bao trên, không cho ai mượn giấy tờ tùy thân, không đứng tên thuê bao cho người khác, không biết và không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy với Nguyễn Sa L.

Đối với số tài khoản 992906112004 đăng ký tại Ngân hàng M1, là tài khoản đã nhận số tiền 400.000 đồng từ Trần Huy Định chuyển khoản trả tiền mua ma túy. Kết quả tra cứu thông tin chủ tài khoản mang tên Hà Ngọc B, sinh năm 2004, trú tại: Bản G, phường T, tỉnh Sơn La. Tiến hành xác minh đã xác định: Hà Ngọc B và Nguyễn Sa L kết hôn từ năm 2024, cả hai sử dụng chung số tài khoản Ngân hàng trên, việc L sử dụng số tài khoản trên để thực hiện hành vi phạm tội chị B không biết và không tham gia. Do đó không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đối với tài khoản 0369571521 trên ứng dụng Momo, là tài khoản đã chuyển 400.000 đồng cho Nguyễn Sa L để trả tiền mua ma túy. Kết quả điều tra xác định, tài khoản ngân hàng trên là của Đỗ Thị B1, sinh năm 1968, trú tại tiểu khu T, xã M, tỉnh Sơn La là mẹ đẻ của Trần Huy Đ, do không quen sử dụng nên đã cho Trần Huy Đ sử dụng. Việc Đ sử dụng số tài khoản trên để thực hiện hành vi phạm tội thì bà B1 không biết và không tham gia. Do đó không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đối với chủ sở hữu nơi ở mà Nguyễn Sa L cư trú và cất giấu ma túy là nhà ông Hà Văn H2, sinh năm 1981, trú tại bản G, phường T, tỉnh Sơn La. Tiến hành xác minh, ghi lời khai Hà Văn H2 khai nhận: Nguyễn Sa L là con rể của Hà Văn H2, việc L cất giấu ma túy tại nhà thì ông H2 không biết, không tham gia. Do đó không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

[7] Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Sa L, Trần Huy Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Thời hạn tạm giam của các bị cáo còn dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sa L, phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Sa L 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Trần Huy Đ phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.

    Xử phạt bị cáo Trần Huy Đ 11 (Mười một) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, bên trong gồm 31 viên hồng phiến + 01 mảnh giấy màu trắng; 01 phong bì niêm phong, bên trong gồm 101 viên hồng phiến + 01 túi nilon màu xanh than; 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh, một đầu có díp khoá chứa 6,68 gam, ký hiệu T; 01 chiếc ba lô màu đen có dòng chữ KUROMI.

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, vỏ màu đen (Đựng trong phong bì niêm phong).

    Trả lại cho chị Hà Bích N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE XS, vỏ màu vàng (Đựng trong phong bì niêm phong).

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Sơn La, ngày 05/11/2025).

  4. Về án phí: Căn cứ điểm khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Sa L, Trần Huy Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 24/11/2025).

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Sơn La;

- VKSND tỉnh Sơn La ;

- VKSND khu vực 1 – Sơn La (2);

- Công an tỉnh Sơn La;

- THAHS;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La;

- THADS tỉnh Sơn La;

- Bị cáo; NLQ;

- Lưu: Hồ sơ, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Đào Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sa L, phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Nguyễn Sa L 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. 2. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Trần Huy Đ phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Trần Huy Đ 11 (Mười một) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger