Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày: 16-04-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thúy Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý; bà Châu Thanh Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST- HS ngày 21 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 2003; nơi sinh: huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 02/12 (không biết chữ); dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Ngô Văn L (chết) và bà Trần Thị T1 (1982); anh em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01-10-2024 đến nay. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (Nay là P trại tạm giam khu vực T). Bị cáo Trần Văn T, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T: Ông Hà Quang V – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A, có mặt.

Bị hại: Em Nguyễn Diệp T2, sinh ngày 23/12/2006; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Áp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.

Người làm chứng: Nguyễn Thị Đ; Phan Chí T3; Phan Văn T4; Phan Tường D (đều vắng mặt).

Người giám hộ của em Phan Tường D: Ông Phan Văn M, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ, ngày 30 tháng 9 năm 2024 Trần Văn T, sinh năm 2003 điều khiển xe mô tô 66FL-7633 đến khu vực ấp V, xã V, huyện T, thấy Nguyễn Diệp T2 (sinh ngày 23/12/2006) đưa Nguyễn Văn S về nhà và đứng ngoài đường chờ bạn đến rước, T nói với bà Nguyễn Thị Đ (mẹ của S) T sẽ chở T2 về. Trên đường đi, T nảy sinh ý định quan hệ tình dục với T2, nên T chạy xe vào đường đất thuộc ấp V, xã V, huyện T. T2 nói với T đã chạy sai đường nhưng T vẫn tăng ga chạy đi lúc này T2 nhảy xuống xe và bỏ chạy ra ruộng trốn, T tiếp tục rượt theo khống chế đè T2 nằm ngửa dưới ruộng, T2 truy hô lên thì bị T dùng tay trái nắm đè hai tay của T2, dùng tay phải bóp cổ T2, quá lo sợ nên T2 nằm im, T dùng tay trái cởi quần áo của T2 ra, T tự cởi quần và dùng miệng hôn vào vùng ngực của T2, ngồi quỳ đè 02 chân của T2 để thực hiện hành vi giao cấu nhưng bị T2 vùng vẫy dùng chân đạp T ra, T tiếp tục bóp cổ, dùng ngón giữa và trỏ bàn tay trái đưa vào bên trong bộ phận sinh dục của T2 một lúc, T2 giả vờ kêu đi nhà trọ để quan hệ tình dục nên T đồng ý buông T2 ra, cả hai tự mặc quần áo rồi lên xe mô tô chạy đi tìm nhà trọ. Khi đến Công an xã V, T2 nhảy xuống xe vào trình báo sự việc. Sau đó, T đầu thú, khai nhận hành vi hiếp dâm T2.

Đến ngày 10/10/2024, T bị khởi tố, tạm giam để điều tra.

Tại Bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 654/24/KLTDTE-TTPY ngày 08/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, kết luận: Môi bé: Phía trên bên trái môi bé gần tiền đình có vết rách kích thước (0,5 x 0,3)cm. Âm hộ: Còn sưng đỏ. Màng trinh: Rách cũ vị trí 5 giờ, 7 giờ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 04%. Kết quả siêu âm: Chưa ghi nhận bất thường trên hình ảnh siêu âm.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 66FL-7633, nhãn hiệu SYW, màu đen xám (đã qua sử dụng); 01 áo thun ngắn tay, loại áo cổ tròn, màu đen; 01 quần thun dài màu đen; 01 quần lót màu hồng; 01 áo lót màu vàng nhạt (đã qua sử dụng); 01 áo thun ngắn tay, loại áo cổ tròn, màu đen; 01 quần tây vải màu đen; 01 áo thun dài tay, loại áo cổ đứng, màu đỏ bị rách (đã qua sử dụng);

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Diệp T2 đã nhận tiền bồi thường 4.000.000 đồng khắc phục hậu quả, ngoài ra không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số: 11/CT-VKSTT-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố Trần Văn T về tội “Hiếp dâm” theo khoản 4 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên. Đối với quần, áo cơ quan điều tra đã thu giữ bị cáo không yêu cầu nhận lại.

Người liên quan: Trần Thị T1 đối với xe mô tô biển số 66FL-7633, nhãn hiệu SYW, màu đen xám (đã qua sử dụng) mà cơ quan điều tra đã thu giữ bà T1 yêu cầu nhận lại và không có ý kiến gì khác.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 141; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 05 năm đến 06 năm tù, về tội “Hiếp dâm”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường thiệt hại nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng đã thu giữ do không còn giá trị sử dụng; trả lại bà T1 xe mô tô biển số 66FL-7633, nhãn hiệu SYW, màu đen xám (Đã qua sử dụng).

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị hại Nguyễn Diệp T2 và những người làm chứng đều vắng mặt, dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 21 giờ, ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại khu vực đất ruộng thuộc ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của bị hại Nguyễn Diệp T2. Tại thời điểm bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại Nguyễn Diệp T2 theo Giấy khai sinh số 18; quyển số 01, ngày 18 tháng 01 năm 2007 của Ủy ban nhân dân xã B (nay là thị trấn B) thì Nguyễn Diệp T2, sinh ngày 23/12/2006 (T2 17 tuổi, 09 tháng 07 ngày) là người chưa đủ 18 tuổi.

Hành vi của bị cáo Trần Văn T đã phạm tội “Hiếp dâm” với tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” quy định tại khoản 4 Điều 141 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, cần xử lý nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi giao cấu trái ý muốn của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm đến cùng mặc dù bị hại đã có sự phản kháng. Do đó, cần phải có hình phạt tù khiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại, đầu thú. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm rất nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 141 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với quần, áo đã thu giữ không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với xe mô tô biển số 66FL-7633, nhãn hiệu SYW, màu đen xám, (đã qua sử dụng), nên cần trả lại cho chủ sở hữu bà Trần Thị Tuyết .

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo Trần Văn T gia đình thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Hiếp dâm”.

Căn cứ khoản 4 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Văn T: 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01 tháng 10 năm 2024).

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay, loại áo cổ tròn, màu đen; 01 quần thun dài màu đen; 01 quần lót màu hồng; 01 áo lót màu vàng nhạt; 01 áo thun ngắn tay, loại áo cổ tròn, màu đen; 01 quần tây vải màu đen; 01 áo thun dài tay, loại áo cổ đứng, màu đỏ bị rách (đã qua sử dụng);

Trả lại bà Trần Thị T1: 01 (một) xe mô tô biển số 66FL-7633, nhãn hiệu SYW, màu đen xám, số máy: VMWHC139FMB005145, số khung: RMWDCBAW7H005145 (đã qua sử dụng). (đặc điểm theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28 tháng 3 năm 2025).

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Tri Tôn;
  • - CQCSĐT - CA tỉnh An Giang;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Tri Tôn;
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sơn Thị Thúy Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về hiếp dâm

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BC: TRẦN VĂN T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger