TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày 14 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S – TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Xuân Thạo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Xuân Hùng;
Ông Nguyễn Ngọc Ngát.
- Thư ký phiên toà: ông Lê Văn Khiết – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ông Vương Văn P - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10/4/2025 và ngày 14/4/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Bắc Giang, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 10/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST – HS ngày 24/3/2025, quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HS-ST ngày 08/4/2025 đối với bị cáo:
Nông Văn H, sinh năm 1983 tại huyện S, tỉnh Bắc Giang (bị cáo có mặt tại phiên tòa);
Nơi sinh và cư trú: thôn L, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nông Văn M và bà Nguyễn Thị T; vợ: Lục Thị H1; bị cáo có 03 con; tiền án: không.
Tiền sự: Quyết định số 134/QĐ – XPTT ngày 05/10/2023 Chủ tịch UBND xã V, huyện S áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. H đã chấp hành xong ngày 05/01/2024.
Nhân thân:
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50/QĐ-CAX ngày 18/7/2023 của Trưởng Công an xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang, xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày phạm tội Nông Văn H đã chấp hành xong;
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 83/QĐ-CAX ngày 19/9/2023 của Trưởng Công an xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang, xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 91/QĐ-CAX ngày 25/9/2023 của Trưởng Công an xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang, xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại.
- Bị hại: Công ty TNHH Đ1 do ông Đặng Đình Đ; chức vụ: Giám đốc công ty đại diện theo pháp luật, ủy quyền cho ông Đặng Mạnh T1; chức vụ: Phó Giám đốc công ty Đ2 theo văn bản ủy quyền ngày 06/12/2024 (vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: tổ dân phố S, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Đình C, sinh năm: 1953 (vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: thôn R, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
khoảng 15 giờ, ngày 03/12/2024, Nông Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 98L1-035.48 từ nhà đi đến mỏ đá của Công ty TNHH Đ1 tại thôn R, xã A, huyện S. H quan sát thấy trạm biến áp không có điện do trạm không hoạt động và phát hiện dưới mặt đất giữa hai cột điện của trạm biến áp có 01 chiếc cờ lê bằng kim loại, màu trắng, cỡ 17. H nhặt cờ lê rồi trèo lên trạm biến áp theo thang sắt treo sẵn ở cột điện bên trái, H dùng tay mở nắp hộp bảo vệ máy biến áp, trong hộp có 04 đầu ốc giữ dây điện, H dùng cờ lê tháo ốc của đầu dây điện thứ nhất rời ra, rồi sang hộp điện ở cột điện bên phải, dùng cờ lê tháo đầu ốc vít còn lại, tháo xong 02 đầu thì dây điện rơi ra, H cầm dây thả xuống đất. Sau đó H tiếp tục quay lại hộp máy biến áp tháo ốc thứ 02 thì có hai đầu dây điện rơi ra. Cùng lúc đó anh Đinh Văn T2 đang xây miếu thờ trong khu vực mỏ đã nhìn sang thì thấy H đang ở trên trạm, H cũng nhìn thấy anh T2, do sợ bị phát hiện, H đã trèo từ trạm biến áp xuống đất, vứt bỏ lại chiếc cờ lê, sau đó H kéo theo 01 dây điện vừa tháo rời đi về phía vườn keo nhà ông Nguyễn Văn T3, do sợ bị phát hiện H bỏ lại đoạn dây điện đã trộm cắp tại vườn keo nhà ông T4 và đi ra lấy xe đi về nhà.
Ngày 15/12/2024, ông Đặng Mạnh T1 là người đại diện cho Công ty TNHH Đ1 đã làm đơn trình báo vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng là 01 cờ lê cỡ 17; 03 đoạn dây điện nhãn hiệu Cadisun, ký hiệu loại dây M240 vỏ nhựa, lõi đồng, công xuất chịu tải 0,6KV, mỗi đoạn dây có chiều dài 06m.
Ngày 16/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện S ra yêu cầu định giá tài sản số 1513/YC-CQĐT yêu cầu định giá đối với 03 đoạn dây điện mà H đã trộm cắp của Công ty TNHH Đ1.
Tại Bản kết luận định giá số số 14/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện S, kết luận: 03 đoạn dây điện do H trộm cắp của Công ty TNHH Đ1 có tổng trọng lượng 42,5 kg, tổng trị giá là 6.587.500đồng (sáu triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Bản cáo trạng số 13/CT – VKS ngày 07/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Bắc Giang truy tố Nông Văn Hưng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, i, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 136, khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
1. Xử phạt Nông Văn H từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động luận tội, bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành các hành vi tố tụng hợp pháp, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
Về việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp 03 đoạn dây điện tại Công ty TNHH Đ1 như nội dung bản cáo trạng truy tố. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng số 13/CT – VKS ngày 07/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang truy bị cáo tố là đúng, không oan.
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra (tại các bút lục 177, 178,179) phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện tội phạm và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản các bị cáo trộm cắp trị giá 6.587.500 đồng (sáu triệu năm trăm tám mươi bẩy nghìn năm trăm đồng), như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Nông Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 13/CT – VKS ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích chiếm đoạt tài sản, bán lấy tiền chi tiêu. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp ban ngày, chứng tỏ sự manh động, liều lĩnh, coi thường pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản, là khách thể được luật hình sự bảo vệ, vì vậy cần có bản án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, phòng ngừa.
[3] Xét về nhân thân các bị cáo: Hội đồng xét xử thấy: bị cáo là người có nhân thân xấu: đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, sử dụng trái phép chất ma túy.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù giam để cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
[7] Vật chứng của vụ án: 03 đoạn dây điện bị cáo trộm cắp đã được Cơ quan điều tra thu hồi, trả lại cho Công ty TNHH Đ1 là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS 98L1-035.48 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. 01 cờ lê cỡ 17 là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Án phí, quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136, Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 292, khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;
- Xử phạt: Nông Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử lý vật chứng: trả lại Nông Văn H 01 chiếc xe mô tô BKS 98L1-035.48 số máy JC 52E – 1250030, số khung RLHJC 5269DY081274. Tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê kim loại màu trắng, cỡ 17, dài 19cm, có chữ CHROME VANADIUM, mặt còn lại có chữ YUQI USA Standard.
- Án phí, quyền kháng cáo: bị cáo H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thạo |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S – TỈNH BẮC GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S – TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NÔNG VĂN HƯNG TRỘM CÁP TÀI SẢN
