Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÙ CANG CHẢI

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 13/2025/ HS-ST.

Ngày 26- 3- 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tòng Văn Quân.

Các Hội thẩm thân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

2. Bà Lìm Thị Nhung.

- Thư ký phiên toà: Ông Lý A Dà - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: Ông Đoàn Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST- HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Giàng Thị V- Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng Páo C (đã chết) và bà Thào Thị S, sinh năm 1960; Có chồng là Lảo A L, sinh năm 1990 và 02 con (con lớn sinh 2010, con nhỏ sinh năm 2013); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đức Đ- Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1996; Trú tại: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

  • + Anh Hà Văn V1, sinh năm 1979; Trú tại: Thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

- Người phiên dịch: Ông Thào A D1, sinh năm 1979; Trú tại: Tổ E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 20/10/2024, sau khi đi mua đồ dùng sinh hoạt cho gia đình về đến đầu bản Háng Cơ, xã N, huyện M thì Giàng Thị V gặp và mua được của một người nữ giới không quen biết 01 gói Heroine với số tiền 100.000 đồng mang về cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Giàng Thị V dùng móng tay cấu chia thành 04 phần và gói lại thành 04 gói nhỏ đều bằng nilon, dùng than lửa ở bếp hàn kín một đầu và cho 04 gói Heroine vào túi giả da cất giấu trong buồng ngủ với mục đích để bán kiếm lời và đã bán 02 lần. Cụ thể:

Lần 1: Khoảng 06 giờ ngày 22/10/2024, Giàng Thị V đã bán cho Hoàng Văn D 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng

Lần 2: Khoảng 06 giờ 10 phút ngày 22/10/2024, Giàng Thị V đã bán cho Hà Văn V1 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng.

Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/10/2024, tổ công tác của Công an huyện M, tỉnh Yên Bái phối hợp với Công an xã N, huyện M làm nhiệm vụ tại bản Háng Cơ, xã N phát hiện H đang ngồi một mình gần cây thông cạnh đường dân sinh có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hành vi phạm tội về ma túy nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Hà Văn V1 tự giác giao nộp: 01 mảnh giấy bạc cháy xém hai mặt; 01 bật lửa ga màu vàng; 01 tờ lịch ngày 21/10/2024, trên tờ lịch có ghi số 8850 và khai nhận bản thân là người nghiện ma túy, vừa trước đó đã mua ma túy của Giàng Thị V để sử dụng, tờ lịch có ghi số 8850 là 04 số cuối của seri tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000₫ V đã dùng để trả cho V để mua Heroine.

Căn cứ lời khai của Hà Văn V1, cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Yên Bái đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, đồ vật tại bản Háng Cơ, xã N, huyện M đối với Giàng Thị V về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Quá trình giữ người và tạm giữ: 1.200.000đ và 01 túi giả da màu trắng nâu; quá trình khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại bản Kết luận giám định số: 664/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận: Số tiền 1.200.000 đồng gồm nhiều tờ tiền Việt Nam mệnh giá khác nhau gửi giám định đều là tiền thật.

Cáo trạng số: 16/CT- VKS- MCC ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố Giàng Thị V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo trong quá trình thực hiện tội phạm và giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng Thị V từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đề nghị tiêu huỷ vật chứng là 01 vỏ phong bì đã mở niêm niêm phong; 01 túi giả da màu nâu cũ đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc cháy xém hai mặt và 01 bật lửa ga màu vàng đã qua sử dụng.

  • - Đối với số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của bị cáo (Trong đó: 200.000 đồng là tiền phạm tội mà có, đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; số tiền còn lại 1.000.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo đề nghị trả lại cho bị cáo).

Người bào chữa trình bày lời bào chữa nhất trí với tội danh và điều khoản truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế; Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; T khai ra hành vi phạm tội khác của bản thân khi chưa bị phát hiện. Đề nghị Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo thuộc hộ nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến bổ sung.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản ghi lời khai những người làm chứng; phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, với biên bản thu giữ vật chứng, với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 20/10/2024, Giàng Thị V đã mua 01 lượng Heroine với giá 100.000 đồng của một người nữ giới không quen biết về chia nhỏ làm 04 gói mục đích để bán kiếm lời. Cụ thể: Giàng Thị V đã bán 02 lần: Lần 1: Khoảng 06 giờ ngày 22/10/2024, Giàng Thị V đã bán cho Hoàng Văn D 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng; Lần 2: Khoảng 06 giờ 10 phút ngày 22/10/2024, Giàng Thị V đã bán cho Hà Văn V1 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc “Mua bán trái phép chất ma tuý” là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống ma tuý, mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện ma tuý, là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm khác trên địa bàn, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; T khai ra hành vi phạm tội khác của bản thân khi chưa bị phát hiện nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.

[5]. Về nhân thân: Bị cáo Giàng Thị V là phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, hiểu biết xã hội còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước, thể hiện bị cáo là người có nhân thân tốt.

[6]. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng, điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8]. Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

  • - Đối với người bán Heroine cho Giàng Thị V, quá trình điều tra bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này, do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.

  • - Đối với khối lượng Heroine Giàng Thị V đã bán cho Hoàng Văn D và Hà Văn V1 vào ngày 22/10/2024: Do D và V1 đã sử dụng hết, cũng như khi mua bán thì Giàng Thị V, Hoàng Văn D và Hà Văn V1 không cân xác định thực tế khối lượng nên không đủ căn cứ để xử lý.

  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn D và Hà Văn V1 đã vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ nên Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” đối với D và V1 là phù hợp.

[9]. Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) vỏ phong bì sau khi mở giám định; 01 (một) mảnh giấy bạc cháy xém hai mặt; 01 (một) bật lửa ga, màu vàng, đã qua sử dụng và 01 (một) túi giả da màu trắng nâu, cũ đã qua sử dụng. Không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

  • - Đối với số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của bị cáo (Trong đó: 200.000 đồng là tiền phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; số tiền còn lại 1.000.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo).

[10]. Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Giàng Thị V phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý "

1. Về hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Giàng Thị V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 22/10/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) vỏ phong bì sau khi mở giám định; 01 (một) mảnh giấy bạc cháy xém hai mặt; 01 (một) bật lửa ga, màu vàng, đã qua sử dụng và 01 (một) túi giả da màu trắng nâu, cũ đã qua sử dụng

  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  • - Trả lại cho bị cáo: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

3. Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Bị cáo Giàng Thị V được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh YB;

  • - VKSND huyện MCC;

  • - VKSND tỉnh Yên Bái;

  • - C, A tỉnh Yên Bái (2 bản);

  • - Chi cục THADS huyện MCC;

  • - Sở Tư pháp;

  • - Bị cáo;

  • - Người bào chữa;

  • - Trại tạm giam C A tỉnh Yên Bái;

  • - Lưu T.H.A phạt tù, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Tòng Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/ HS-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 13/2025/ HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 20/10/2024, Giàng Thị V đã mua 01 lượng Heroine với giá 100.000 đồng của một người nữ giới không quen biết về chia nhỏ làm 04 gói mục đích để bán kiếm lời. Cụ thể: Giàng Thị V đã bán 02 lần: Lần 1: Khoảng 06 giờ ngày 22/10/2024, Giàng Thị V đã bán cho Hoàng Văn D 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng; Lần 2: Khoảng 06 giờ 10 phút ngày 22/10/2024, Giàng Thị V đã bán cho Hà Văn V1 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger