Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN ĐƯỚC

TỈNH LONG AN

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Minh Quang.
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Dương Minh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Diệp – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS, ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An đối với các bị cáo:

1. Lương Thành Đ, sinh ngày: 03/10/2003; Nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Thành T, sinh năm: 1982 và bà Huỳnh Thị Trúc M, sinh năm: 1986; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến ngày 30/12/2024.

2. Nguyễn Lê P, sinh ngày: 17/02/1994; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1956 và bà Lê Thị R, sinh năm: 1963; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1996 và có 01 người con, sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 29/7/2022 bị Công an huyện C xử phạt hành chính 4.000.000đ về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 160/QĐ-XPHC, ngày 29/7/2022 (Bị cáo đã chấp hành xong ngày 2/8/2022).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến ngày 30/12/2024.

3. Nguyễn Thành P1, sinh ngày: 13/5/2003; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành L, sinh năm: 1980 và bà Phạm Thị T2, sinh năm: 1982; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến ngày 30/12/2024.

4. Phạm Bá P2, sinh ngày: 06/7/1998; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc H, sinh năm: 1970 và bà Trần Thị Thu L1, sinh năm: 1980; Bị cáo có vợ tên Dương Hải M1, sinh năm 1997 và có 02 người con, lớn sinh năm 2020 và nhỏ sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 24/5/2022 bị Công an huyện C, tỉnh Long An xử phạt hành chính 4.400.000đ về hành vi hủy hoại tài sản của cá nhân, tổ chức và gây rối trật tự công cộng ở khu dân cư theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 114/QĐ-XPHC, ngày 24/5/2022 (Bị cáo đã chấp hành xong ngày 25/6/2022).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến ngày 30/12/2024.

5. Phạm Thanh T3, sinh ngày: 08/3/2003; Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thanh T4, sinh năm: 1981 và bà Lý Thị Bích C, sinh năm: 1981; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến ngày 30/12/2024.

6. Phạm Ngọc T5, sinh ngày: 01/6//2002; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tấn N1, sinh năm: 1966 và bà Nguyễn Thị T6, sinh năm: 1967; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến ngày 30/12/2024.

7. Nguyễn Hoàng N2, sinh ngày: 15/6/2000; Nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1958 và bà Đặng Thị H2, sinh năm: 1966; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến ngày 30/12/2024.

8. Lê Minh M2, sinh ngày: 25/7/1999; Nơi đăng ký thường trú: Ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M3, sinh năm: 1972 và bà Trần Thị P3, sinh năm: 1973; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 24/5/2022 bị Công an huyện C, tỉnh Long An xử phạt hành chính 400.000đ về hành vi gây mất trật tự công cộng theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118/QĐ-XPHC, ngày 24/5/2022 (Bị cáo chấp hành xong ngày 25/5/2022).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến ngày 30/12/2024.

9. Tô Chí T7, sinh ngày: 26/10/1997; Nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn D, sinh năm: 1969 và bà Phạm Thị Kim D1, sinh năm: 1971; Bị cáo chưa có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc H3, sinh năm: 1998.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến ngày 30/12/2024.

10. Trần Nguyễn Công V, sinh ngày: 13/6/2000; Nơi đăng ký thường trú: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang C1, sinh năm: 1973 và bà Nguyễn Thị Ngọc T8, sinh năm: 1976; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2024 đến ngày 30/12/2024.

(Tất cả các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Lê P, Nguyễn Thành P1, Lê Minh M2, Lương Thành Đ: Luật sư Nguyễn Quốc V1; Văn phòng L2 – Đoàn luật sư tỉnh L (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Ông Nguyễn Thái T9, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Số nhà A, đường B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An (Có mặt).
  • - Ông Nguyễn Văn X, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Long An (Vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Nguyễn Minh Đ1; Ông Huỳnh Trọng N3; Ông Hà Quốc H4 (Tất cả đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 28/12/2023, Nguyễn Văn M4 điều khiển xe môtô chở Nguyễn Minh T10 đến quán cơm của Đinh Bảo T11 ở khu C, thị trấn C đề tìm Lương Thành Đ vì Đ đánh Nguyễn Văn T12 là anh em hàng xóm của M4 nhưng không gặp Đ nên M4 và T10 đi về. Lúc này, trong quán có Phạm Ngọc T5, Nguyễn Văn P4 là những người phụ bán cơm và Lương Gia B là người đến quán chơi. Khi đó, T11 điện thoại nói cho Đ biết có người tìm kiếm Đ, rồi T11 đi giao cơm cho khách. Sau khi nghe T11 nói, Đ vào nhà hoang ở Khu D, thị trấn C lấy 01 ống tuýp bằng kim loại tròn, có đầu nhọn dài 1,7m và 01 con dao bằng kim loại, phần cán bằng ống tuýp tròn dài 1,2m cầm trên tay chạy vào Ấp D, xã T để tìm đánh Nguyễn Văn T12 vì trước đó Đ và T12 có xảy ra mâu thuẫn với nhau.

Thấy Đ cầm hung khí chạy ngang qua quán thì Nguyễn Văn P4 điều khiển xe môtô chở Phạm Ngọc T5 và Lương Gia B vào nhà hoang lấy thêm 01 con dao hàn cán dài, 01 con dao rựa và 01 con dao tự chế chạy đi theo hỗ trợ Đ vì T5, B và P4 biết Đ cầm theo hung khí sẽ đi đánh nhau. Khi qua khỏi cổng ấp Văn hóa của Ấp D, xã T cách tiệm S khoảng 15m thì T5, P4, B gặp Đ nên tất cả dừng xe lại, Đ đưa cho B 01 con dao cán dài. Trong tiệm S lúc này có Nguyễn Thái T9, Ngô Bảo H5, Nguyễn Văn M4, Nguyễn Bình M5, Nguyễn Văn T12, Đỗ Hoàng T13 mỗi người đều cầm hung khí chạy ra đuổi đánh lại nhóm của Đ. Khi nghe có nhiều tiếng nổ lớn, nhóm Đ cầm hung khí lên xe bỏ chạy đi về, còn nhóm của M5, H5, Bình M5, T5, T12 thì quay vào lại quán.

Trên đường về Đ chở B, P4 chở T5 chạy đến trước nhà ông Nguyễn Văn X thuộc Ấp C, xã T, huyện C thì gặp Đinh Bảo T11, Phạm Bá P2, Nguyễn Lê P cùng 4 đến 5 người khác (không rõ lai lịch). Khi này, thì P4 nói bị nhóm của M5 bắn trúng vào đùi trái gây thương tích nên cả nhóm về quán của Đinh Bảo T11. Đ và B bỏ hung khí mang theo trước hàng rào nhà ông X rồi cùng mọi người đi về quán. Tại quán, lúc này có Nguyễn Hoàng N2, Tô Chí T7, Lê Minh M2, Phạm Bá P2, Nguyễn Lê P, Đặng Quốc Đ2, Nguyễn Minh Đ1, Phạm Ngọc T5 và 01 số người khác (không rõ lai lịch). Lúc này, do tức giận việc P4 bị nhóm người trong tiệm S gây thương tích nên Đ điều khiển xe môtô chạy đi thì Thành P1, N2, M2, T7, Lê P biết Đ đi vào tìm người gây thương tích cho P4 nên cũng đi theo gồm: Thành Phúc tự leo lên xe cho Đ chở bằng xe môtô không rõ biển số do Đ mượn của khách đến quán ăn cơm, N2 điều khiển xe môtô loại wave anpha màu đỏ, biển số 62L1-992.01 chở M2 và T7; T5 thấy T3 đang đứng mua cơm nên kêu T3 điều khiển xe môtô hiệu Exciter màu xanh – bạc, biển số 59N1-975.81 chở T5 chạy theo, Lê P kêu P2 chở Lê P về nhà lấy theo 01 cây súng pháo màu đen bỏ trong người rồi P2 điều khiển xe môtô hiệu Ariblade màu đen-đỏ, biển số 75K1- 423.05 chở P đi theo hỗ trợ Đ. Riêng Trần Nguyễn Công V do có hẹn với Nguyễn Hoàng N2 đến quán để lấy tiền, khi vừa đến quán thì thấy N2 chở M2, T7 chạy theo nhóm người trong quán nên V kêu Đ1 đang ngồi ăn cơm trong quán điều khiển xe môtô của V hiệu Vario 150, biển số 62L1-783.88 chở V chạy theo N2, còn H4 và N3 đang ăn ốc bên cạnh quán B1 thấy có đông người biết là đi đánh nhau nên N3 chở H4 đi theo để coi. Riêng Đặng Quốc Đ2 chạy xe về nhà mà không tham gia đi cùng mọi người.

Trên đường đi, T5 nghe nhóm người đi chung kêu ghé lấy mấy kết bia nên khi đến trước cửa nhà ông X thì T5 kêu T3 dừng lại vào lấy mấy kết vỏ chai bia để làm hung khí đi đánh nhau, T3 dừng lại và leo vào hàng rào bên trong nhà, T5 cùng với nhóm người đi chung đứng bên ngoài. T3 lấy 02 kết vỏ chai bia chuyền ra ngoài, T5 đứng đỡ 02 vỏ kết bia xuống đất, P2 lấy 01 kết vỏ chai bia để trên ba ga xe. T3 tiếp tục chuyền 02 thanh sắt loại ống tuýp tròn dài khoảng 1,5m (Không để ý trên đầu có hàn thêm hung khí gì không) chuyền ra ngoài thì Đ và Thành P1 mỗi người cầm 01 thanh. Sau khi lấy xong hung khí, Đ chở Thành P1 đi trước về hướng bến đò Bà N4. Lúc này, Lê P lấy khẩu súng pháo màu đen trong người giơ lên trời bắn nổ 01 tiếng rồi tất cả điều khiển xe chở nhau đi đến tiệm S ở Ấp D, xã T tìm nhóm người gây thương tích cho P4. Cụ thể gồm: P2 chở Lê P mang theo 01 kết vỏ chai bia, T3 chở T5 cầm theo 02 vỏ chai bia lấy trong két bia mà T3 chuyền ra, N2 chở M2 và T7 mỗi người cầm theo 01 vỏ chai bia, Đ1 chở V, N3 chở H4 không mang theo hung khí cùng một số người đi chung không rõ lai lịch. Khi cả nhóm chạy qua khỏi cổng Ấp D, xã T cách tiệm S khoảng 50m thì cả nhóm dừng xe lại cầm hung khí và vỏ chai bia cùng đi bộ vào hướng tiệm sửa xe, riêng Đ1, H4, N3 và P2 đứng tại nơi đậu xe. Khi đi bộ gần đến tiệm sửa xe, thấy có nhóm người đi ra và nghe có nhiều tiếng nổ nên Lê P lấy súng pháo giơ lên trời bắn nổ 1 đền 2 tiếng để thị uy, đáp trả. Cùng lúc này, nhóm người đi chung gồm: N2, T5, M2, T7, V mỗi người lấy từ 01 đến 02 vỏ chai bia ném về hướng tiệm sửa xe. Còn Đ, Thành P1 cầm hung khí đi bộ lại hướng tiệm sửa xe thì Đ bị tấn công và bị thương ngón cái bàn chân phải nên cả hai vứt con dao bỏ chạy. P2 và T3, Đ1, H4, N3 nghe tiếng nổ và tiếng vỡ thủy tinh thì hoảng sợ nên cũng bỏ chạy. Riêng Đinh Bảo T11 sau khi chở P4 về đến quán cơm không thấy ai nên đi xe một mình vào bến đò Bà N4, khi đến chỗ đậu xe thì nghe nhiều tiếng nổ nên quay xe ra thì gặp M5 cầm mã tấu chém gây thương tích. Sau đó tất cả bỏ về thị trấn C. Kết quả: Lê P bị bắn trúng đạn vào phía sau tai trái với tỷ lệ thương tích 34%, Đinh Bảo T11 bị chém trúng khuỷu tay phải gây thương tích 02%, Đ bị thương ngón cái bàn chân phải với tỷ lệ thương tích 01%, T7 bị bắn trúng đạn ở đùi phải gây thương tích 02% và Đ1 bị chém phía sau lưng nhưng tự băng bó vết thương tại nhà.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành thu giữ: 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, dạng súng lục (Rulo), có ổ đạn quay, bên trong có lỗi nhựa màu đỏ, trên thân súng có chữ “MADE IN CHINA”, dài 19,5cm, phần thân súng dài 13,5cm do Lê Minh M2 giao nộp (Do M2 nhặt tại chỗ P nằm); 01 viên đạn màu vàng bằng kim loại kích thước 5,6mm x 15,5mm; 04 mảnh kim loại được lấy ra từ cơ thể các bị cáo Nguyễn Lê P, Tô Chí T7, Lương Thành Đ và Nguyễn Văn P4 do bệnh viện C2 và Bệnh viện T17 giao nộp.

Tại kết luận giám định số 118/K1-KTHS, ngày 05/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

- 01 khẩu súng ngắn, ổ xoay, màu đen kích thước dài: 19,5cm, thân súng kim loại dài: 13,5cm, trên thân súng có chữ “MADE IN CHINA” nòng súng kim loại, ổ đạn xoay có 08 lỗ bên trong có vòng tròn màu đỏ, tay cầm bằng nhựa màu đen (ký hiệu A) là súng bắn đạn pháo, không phải vũ khí quân dụng, khi bắn chỉ phát tiếng nổ, không có tính sát thương.

- 01 viên đạn hình trụ, vỏ kim loại màu vàng, đầu đạn kim loại màu xám trắng, cỡ đạn (5,6 x 15,5)mm, vỏ đạn bị biến dạng, đít đạn có ký hiệu “SB”mm, có dấu vết kim hỏa. Đạn gửi giám định là đạn thể thao, cỡ đạn (5,6 x 15,5)mm; đạn sử dụng cho một số súng: Súng thể thao, súng tự chế ... có cỡ nòng (5,6 x 15,5)mm, buồng đạn phù hợp với kích cỡ của loại đạn này, viên đạn đã được bắn nhưng không nổ. Viên đạn không thể bắn với súng (ký hiệu A).

Kèm theo kết luận giám định: Không có.

Bản ảnh giám định gồm 29 ảnh, được lưu tại Phòng K Công an tỉnh L.

H6 lại đối tượng giám định:

- 01 khẩu súng ngắn kim loại dạng súng pháo), ổ xoay, màu đen kích thước dài: 19,5cm, thân súng kim loại dài: 13,5cm, trên thân súng có chữ “MADE IN CHINA” nòng súng kim loại (ký hiệu A) đã gửi đến yêu cầu giám định như trên Quyết định trưng cầu giám định.

- 01 viên đạn kim loại hình trụ, vỏ kim loại màu vàng, đầu đạn kim loại màu xám trắng, cỡ đạn (5,6 x 15,5)mm, vỏ đạn bị biến dạng, đít đạn có ký hiệu “SB”, có dấu vết kim hỏa (ký hiệu A1) đã gửi giám đến yêu cầu giám định như trên Quyết định trưng cầu giám định.

Tại kết luận giám định số 1508/KL-KTHS, ngày 6/3/2024 của V2 tại Thành Phố Hồ Chí Minh, kết luận: 04 mảnh kim loại gửi giám định là đầu đạn của loại đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm, không phải là vũ khí quân dụng.

Kèm theo kết luận giám định: Không.

H6 lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng gửi giám định.

Về vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm giữ: 04 mãnh vỏ chai thủy tinh màu nâu kích thước không xác định; 06 vỏ chai bia bằng thủy tinh màu nâu có dòng chữ B2; 01 thùng két bằng nhựa màu đỏ đựng vỏ chai bia kích thước 30x 40x25cm có ghi chữ Bia sài Gòn; 01 vỏ chai bia bằng thủy tinh màu nâu có dòng chữ Larue; 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, dạng súng lục (Rulo), có ổ đạn quay, bên trong có lỗi nhựa màu đỏ, trên thân súng có chữ “MADE IN CHINA”, dài 19,5cm, phần thân súng dài 13,5cm do Lê Minh M2 giao nộp do M2 nhặt tại chỗ P nằm; 01 viên đạn màu vàng bằng kim loại kích thước 15,5mmx5,6mm; 01 bao vải màu đen kích thước 60x10cm; 04 mảnh kim loại; 01 con dao bằng kim loại có vỏ bên ngoài màu đen, kích thước 45 x 2,5cm và 01 vỏ đựng dụng cụ tự chế kích thước 6cmx50cm bằng gỗ; 01 xe môtô loại wave anpha màu đỏ, biển số 62L1 - 992.01; 01 xe hiệu Exciter màu xanh – bạc, biển số 59N1 - 975.81; 01 xe hiệu Ariblade màu đen - đỏ, biển số 75K1- 423.05 và 01 xe hiệu Vario 150, biển số 62L1 - 783.88. Ngày 22/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại các xe môtô trên cho các chủ sở hữu do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về dân sự: Ông Nguyễn Văn X và ông Nguyễn Thái T9 không yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số 09/CT-VKSCĐ, ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước đã truy tố các bị cáo Lương Thành Đ, Nguyễn Lê P, Nguyễn Thành P1, Phạm Bá P2, Phạm Thanh T3, Phạm Ngọc T5, Nguyễn Hoàng N2, Lê Minh M2, Tô Chí T7 và Trần Nguyễn Công V về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Tuyên bố các bị cáo Lương Thành Đ, Nguyễn Lê P, Nguyễn Thành P1, Phạm Bá P2, Phạm Thanh T3, Phạm Ngọc T5, Nguyễn Hoàng N2, Lê Minh M2, Tô Chí T7 và Trần Nguyễn Công V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38; 50, 58, 65 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt các bị cáo:

Nguyễn Lê P, Lê Minh M2, Phạm Bá P2 mỗi bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm.

Lương Thành Đ, Nguyễn Thành P1, Phạm Thanh T3, Phạm Ngọc T5, Nguyễn Hoàng N2, Tô Chí T7, Trần Nguyễn Công V mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và cho tiêu hủy: 04 mãnh vỏ chai thủy tinh màu nâu; 06 vỏ chai bia bằng thủy tinh; 01 thùng két bằng nhựa màu đỏ đựng vỏ chai bia có ghi chữ Bia sài Gòn; 01 vỏ chai bia bằng thủy tinh màu nâu có dòng chữ Larue; 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, dạng súng lục (Rulo); 01 viên đạn màu vàng bằng kim loại 01 bao vải màu đen; 04 mảnh kim loại; 01 con dao bằng kim loại và 01 vỏ đựng dụng cụ tự chế.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

[1.2] Trong quá trình điều tra, các bị cáo Phạm Bá P2, Phạm Ngọc T5, Nguyễn Hoàng N2 có yêu cầu luật sư Nguyễn Quốc V1 báo chữa cho các bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Bá P2, Phạm Ngọc T5, Nguyễn Hoàng N2 làm đơn đề nghị không yêu cầu luật sư V1 tiếp tục bào chữa. Đây là ý chí tự nguyện của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của từng bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo còn lại, phù hợp với các biên bản đối chất giữa các bị cáo, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và lời khai của người làm chứng. Các lời khai này hoàn toàn phù hợp các hình ảnh từ Camera thu được tại hiện trường từ lúc 20 giờ 25 phút đến 20 giờ 27 phút 21 giây, ngày 28/12/2023 tại khu vực trước nhà ông Nguyễn Văn X, địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định khoảng 20 giờ 25 phút ngày 28/12/2023, do trước đó Nguyễn Văn P4 bị nhóm người trong tiệm S ở Ấp D, xã T, huyện C gây thương tích nên các bị cáo Lương Thành Đ, Nguyễn Lê P, Nguyễn Thành P1, Phạm Bá P2, Phạm Thanh T3, Phạm Ngọc T5, Nguyễn Hoàng N2, Lê Minh M2, Tô Chí T7 và Trần Nguyễn Công V đi trên 05 xe môtô rồi cùng một số người không rõ lai lịch có hành vi tụ tập trước cửa nhà ông Nguyễn Văn X tại Ấp C, xã T để đi đến tiệm sửa xe tìm đánh lại nhóm người đã gây thương tích cho Nguyễn Văn P4, tại đây, cả nhóm nói chuyện ồn ào, lớn tiếng. Sau khi các bị cáo lấy hung khí là 02 kết vỏ chai bia và 02 thanh kim loại bằng ống tuýp sắt thì Lương Thành Đ chở Nguyễn Thành P1 xuất phát trước, Nguyễn Lê P lấy súng pháo bắn nổ 01 tiếng rồi cùng điều khiển xe chở nhau đi đến Ấp D, xã T tìm đánh nhóm người gây thương tích cho P4. Đến nơi cả nhóm xuống xe cầm hung khí đi bộ gần đến tiệm S để tìm người đánh nhưng thấy có nhóm người cầm hung khí trong quán đi ra và nghe có nhiều tiếng nổ nên Lê P lấy súng pháo giơ lên trời bắn nổ 1-2 tiếng để thị uy, đáp trả. Lúc này, nhóm người đi chung gồm: N2, T5, M2, T7, V mỗi người lấy 1-2 vỏ chai bia ném về hướng tiệm sửa xe. Còn Đ, Thành P1, P2 và T3, Đ1 nghe tiếng nổ và tiếng vỡ thủy tinh nên cũng bỏ chạy.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đủ năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, vì vậy các bị cáo phải biết hành vi này là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên với bản chất xem thường pháp luật, muốn giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, các bị cáo đã tập trung đông người, chuẩn bị hung khí gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo tâm lý bất an, lo sợ cho người dân sống tại khu vực, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định các bị cáo Lương Thành Đ, Nguyễn Thành P1, Nguyễn Lê P, Phạm Bá P2, Phạm Thanh T3, Phạm Ngọc T5, Nguyễn Hoàng N2, Lê Minh M2 và Trần Nguyễn Công V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Điều 318 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà cón vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

... ... ... ... .....;

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1 Về tình tiết tăng nặng: Tất cả các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Việc luật sư Nguyễn Quốc V1 yêu cầu áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, m khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lương Thành Đ, Nguyễn Lê P, Nguyễn Thành P1 và Lê Minh M2. Hội đồng xét xử xét thấy lời tranh luận của đại diện Viện kiểm là phù hợp nên Hội đồng xét xử không áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho các bị cáo. Như vậy các bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên không đủ điều kiện để Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 cho các bị cáo. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo Nguyễn Thành P1, Nguyễn Hoàng N2, Phạm Ngọc T5, Phạm Bá P2, Tô Chí T7, Lê Minh M2, Trần Nguyễn Công V, Lương Thành Đ, Phạm Thanh T3 có hoàn gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Bị cáo Nguyễn Thành P1 có ông ngoại tên Phạm T14 là thương binh; bị cáo Lê Minh M2 có ông nội tên Châu Văn T15 là liệt sĩ; bị cáo Nguyễn Hoàng N2 có bà ngoại tên Nguyễn Thị N5 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba do đã có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và có thành tích tốt trong phong trào hiến máu tình nguyện năm 2019; bị cáo Phạm Ngọc T5 có ông nội tên Phạm Văn T16 được Bộ tặng giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến vào năm 2017; bị cáo Nguyễn Lê P là lao động duy nhất trong gia đình và cùng địa phương hỗ trợ các hộ nghèo, khó khăn trên địa bàn thị trấn C và có ông ngoại là ông Phan Văn Ú là thương binh. Bị cáo Phạm Thanh T3 Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.

[5] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt các bị cáo: Nguyễn Lê P, Lê Minh M2, Phạm Bá P2 mỗi bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm. Lương Thành Đ, Nguyễn Thành P1, Phạm Thanh T3, Phạm Ngọc T5, Nguyễn Hoàng N2, Tô Chí T7, Trần Nguyễn Công V mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, vụ án có đồng phạm nhưng giữa các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, không có bàn bạc, không có người chỉ huy, các bị cáo tự đi, không có ai rủ rê, lôi kéo... nên đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không mang tính tổ chức. Việc tụ tập, gây rối không có bị cáo nào khởi xướng mà chỉ xuất phát từ việc Nguyễn Văn P4 bị nhóm người trong tiệm S đánh nên bị cáo Đ muốn trả thù cho P4 nên mới đi tìm nhóm người này. Khi đó các bị cáo mới lần lượt đi theo, quá trình đi mới phát sinh việc vào nhà ông Nguyễn Văn X lấy các vỏ chai bia và 02 thanh kim loại để làm hung khí như vậy tính chất, mức độ của các bị cáo là ngang nhau. Tất cả các bị cáo đều có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 của Bộ luật hình nên khi lượng hình cần xem xét áp dụng.

[6] Các bị cáo Đ, Thành P1, T3, T5, N2, T7, V không có tiền án, tiền sự, có thân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo.

[7] Đối với các bị cáo Lê P, P2, M2 không có tiền án, tiền sự, tuy có có nhân thân không tốt, cụ thể Lê P, P2 và M2 đều bị xử phạt hình chính vào năm 2022 nhưng đã chấp hành xong vào năm 2022. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội thì các bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính đã hơn 01 năm. Theo hướng dẫn tại điểm 2 khoản 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về tình tiết “Người bị xử phạt tù có nhân thân tốt” thì: “Ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc. a) Đối với người đã bị kết án ...... người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo”. Các bị cáo cũng có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị phạt tù cho hưởng án treo của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo Lê P, Phi Mẫn hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo, đề cao tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung.

[8] Đối với thương tích của các bị cáo Nguyễn Lê P, Lương Thành Đ, Tô Chí T7 và của những người liên quan là Đinh Bảo T11, Nguyễn Minh Đ1 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tách ra điều tra bằng vụ án khác. Việc tách vụ án về hành vi gây thương tích của Cơ quan cảnh sát điều tra là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không có ý kiến.

[9] Đối với nhóm người trong tiệm sửa xe của Nguyễn Thái T9 gồm: Nguyễn Thái T9, Ngô Bảo H5, Nguyễn Văn M4, Nguyễn Bình M5, Nguyễn Văn T12 và Đỗ Hoàng T13 do nhóm của Lương Thành Đ mang hung khí đi tìm nhóm của T9 để đánh nên nhóm của T9 mới có hành vi chống trả vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý nhóm của T9 về hành vi gây rối trật tự công cộng là đúng quy định. Riêng hành vi gây thương tích cho nhóm bị cáo Lương Thành Đ của nhóm bên phía nhóm người tại tiệm S như đã phân tại phần [6] đã được tách ra điều tra do đó không xem xét trong vụ án này.

[10] Đối với Hồ Quốc H7, Huỳnh Trọng N3, Nguyễn Minh Đ1, tuy các đối tượng này có mặt tại nơi xảy ra sự việc và có đi chung với nhóm các bị cáo. Cụ thể Đ1 đang ăn cơm tại quán thì được V nhờ Đ1 điều khiển xe môtô của V chở V chạy theo nhóm do đó Đ1 không phải là người chủ động. H7 và N3 đang ăn ốc bên cạnh quán B1 thấy có đông người nên N3 chở H7 đi theo để coi. Riêng Đinh Bảo T11 sau khi chở P4 về đến quán cơm không thấy ai nên đi xe một mình vào bến đò Bà N4, khi đến chỗ đậu xe, nghe nhiều tiếng nổ nên quay xe ra thì gặp M5 cầm mã tấu chém gây thương tích. Như vậy Hồ Quốc H7, Huỳnh Trọng N3, Nguyễn Minh Đ1 và Đinh Bảo T11 không tham gia lấy hung khí, không có hành động giúp sức cho việc gây rối nên Cơ quan Cảnh sát điều Công an huyện C không xem xét xử lý là đúng quy định.

[11] Đối với Nguyễn Lê P sử dụng súng để bắn, qua giám định súng này chỉ là súng pháo, không phải là vũ khí, quân dụng, không có tính sát thương nên không bị xem xét về hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng vũ khí, quân dụng.

[12] Về trách nhiệm dân sự: Các vật dụng là tài sản của ông Nguyễn Văn X mà các bị cáo lấy sử dụng làm hung khí, ông X không yêu cầu bồi thường, ông Nguyễn Thái T9 cũng không yêu cầu bồi thường chi phí sửa chữa tiệm sửa xe nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[13] Về vật chứng: 04 mãnh vỏ chai thủy tinh màu nâu; 06 vỏ chai bia bằng thủy tinh; 01 thùng két bằng nhựa màu đỏ đựng vỏ chai bia có ghi chữ Bia sài Gòn; 01 vỏ chai bia bằng thủy tinh màu nâu có dòng chữ Larue; 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, dạng súng lục (Rulo); 01 viên đạn màu vàng bằng kim loại 01 bao vải màu đen; 04 mảnh kim loại; 01 con dao bằng kim loại và 01 vỏ đựng dụng cụ tự chế. Đây là các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, cho tiêu hủy.

[14] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Lương Thành Đ, Nguyễn Lê P, Nguyễn Thành P1, Phạm Bá P2, Phạm Thanh T3, Phạm Ngọc T5, Nguyễn Hoàng N2, Lê Minh M2, Tô Chí T7 và Trần Nguyễn Công V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58, 65 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lương Thành Đ 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025). Giao bị cáo Lương Thành Đ về Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Long An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê P 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025). Giao bị cáo Nguyễn Lê P về Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P1 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025). Giao bị cáo Nguyễn Thành P1 về Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bị cáo Phạm Bá P2 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025). Giao bị cáo Phạm Bá P2 về Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T3 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025). Giao bị cáo Phạm Thanh T3 về Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T5 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025). Giao bị cáo Phạm Ngọc T5 về Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N2 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025). Giao bị cáo Nguyễn Hoàng N2 về Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Long An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bị cáo Lê Minh M2 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025). Giao bị cáo Lê Minh M2 về Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Long An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bị cáo Tô Chí T7 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025). Giao bị cáo Tô Chí T7 về Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Long An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Công V 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025). Giao bị cáo Trần Nguyễn Công V về Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
  4. Tịch thu tiêu hủy: 04 mãnh vỏ chai thủy tinh màu nâu kích thước không xác định; 06 vỏ chai bia bằng thủy tinh màu nâu có dòng chữ B2; 01 thùng két bằng nhựa màu đỏ đựng vỏ chai bia kích thước 30x 40x25cm có ghi chữ Bia sài Gòn; 01 vỏ chai bia bằng thủy tinh màu nâu có dòng chữ Larue; 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, dạng súng lục (Rulo), có ổ đạn quay, bên trong có lỗi nhựa màu đỏ, trên thân súng có chữ “MADE IN CHINA”, dài 19,5cm, phần thân súng dài 13,5cm do Lê Minh M2 giao nộp do M2 nhặt tại chỗ P1 nằm; 01 viên đạn màu vàng bằng kim loại kích thước 15,5mmx5,6mm; 01 bao vải màu đen kích thước 60x10cm; 04 mảnh kim loại; 01 con dao bằng kim loại có vỏ bên ngoài màu đen, kích thước 45 x 2,5cm và 01 vỏ đựng dụng cụ tự chế kích thước 6cmx50cm bằng gỗ.

    (Tất cả vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 05/QĐ-VKS-CĐ, ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
  6. Buộc các bị cáo Lương Thành Đ, Nguyễn Lê P, Nguyễn Thành P1, Phạm Bá P2, Phạm Thanh T3, Phạm Ngọc T5, Nguyễn Hoàng N2, Lê Minh M2, Tô Chí T7 và Trần Nguyễn Công V mỗi bị cáo chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An (01b);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An (01b);
  • - VKSND huyện Cần Đước (01b);
  • - VKSND tỉnh Long An (01b);
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Long An (01b);
  • - Chi cục THADS huyện (01b);
  • - Bị cáo (01b);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Quốc Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger