|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày 26 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Nghị
- Bà Kiều Thị Thắng
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Nhà văn hoá thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn T1, sinh ngày 04/10/1987; nơi sinh: Xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ở hiện nay: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Bùi Thị H, sinh năm 1955; vợ: Hoàng Thị Hương G, sinh năm 1995 và 05 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền sự: Không.
Tiền án: 01. Bản án số 105/2015/HSST ngày 27/8/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Nguyễn T1 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”; hình phạt bổ sung phạt sung quỹ nhà nước 5.000.000đồng và truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000đồng của Nguyễn T1. Đến nay, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành hình phạt bổ sung và chưa nộp số tiền truy thu.
Nhân thân:
- Bản án sơ thẩm số 23/2005/HS-ST ngày 01/6/2005 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn T1 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tài sản trộm cắp trị giá 6.973.000 đồng). Tại thời điểm phạm tội, Nguyễn T1 chưa đủ 18 tuổi, bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng nên được coi là không có án tích theo quy định tại khoản 1 điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ- XPHC ngày 12/11/2014 của Công an phường D·Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Nguyễn T1 750.000đồng về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình. Nguyễn T1 chưa nộp phạt nhưng đến nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000502/QĐ-XPHC ngày 01/12/2014 của Công an phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Nguyễn T1 1.250.000đồng về hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình. Nguyễn T1 chưa nộp phạt nhưng đến nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định.
- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 27/2017/QĐ-TA ngày 15/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với Nguyễn T1, thời hạn chấp hành 18 tháng. Nguyễn T1 đã chấp hành xong ngày 21/6/2019.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 9 năm 2024 cho đến nay (có mặt).
Người làm chứng: Anh Vũ Tiến L, sinh năm 1993.
Nơi cư trú: TDP B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1993.
Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn T1 là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2020 cho đến ngày bị bắt giữ. Ngày 10/9/2024, Nguyễn T1 được một người bạn xã hội cho 02 túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong có 01 túi nilon chứa 01 viên nén hình tròn màu đỏ và các hạt tinh thể dạng đá màu trắng và 01 túi nilon chứa 02 viên nén hình tròn màu đỏ và các hạt tinh thể dạng đá màu trắng là ma túy đá và ma túy ngựa để sử dụng. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 13/9/2024, Nguyễn T1 đang ở nhà tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn T1 cầm gói ma túy đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến đầu ngõ ở thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị tổ công tác của Công an tỉnh Vĩnh Phúc và Công an xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn T1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn T1 đang mặc 02 túi nilon nhỏ màu trắng, gồm 01 túi nilon bên trong chứa 01 viên nén hình tròn màu đỏ và các hạt tinh thể dạng đá màu trắng, 01 túi nilon bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu đỏ và các hạt tinh thể dạng đá màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1, Nguyễn T1 khai là ma tuý Methamphetamine và tàng trữ để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 2687/KL-KTHS ngày 17 tháng 9 năm 2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
“Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng 0,1901g (không phảy một chín không một gam, không kể bao bì).
03 (ba) viên nén hình tròn màu đỏ có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng 0,2785g (không phảy hai bảy tám năm gam, không kể bao bì).”
Tại phiên tòa, người làm chứng anh Vũ Tiến L và người chứng kiến anh Nguyễn Mạnh C vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSTD ngày 23/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn T1 từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13 tháng 9 năm 2024; về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy đối với mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1 (đỏ) = 0,2365gam, A1 (trắng) = 0,1400gam mẫu sau giám định cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 2524/2024”. Bị cáo Nguyễn T1 không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người làm chứng, người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo Nguyễn T1 tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ chứng cứ khách quan để kết luận:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 13/9/2024, tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn T1 cầm 02 gói nilon bên trong có chứa tinh thể dạng đá có khối lượng 0,1901gam ma túy Methamphetamine và 03 viên nén màu đỏ có khối lượng 0,2785gam ma túy Methamphetamine từ nhà đi tìm nơi sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép ma túy” để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ vật chứng và niêm phong theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo Nguyễn T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam;”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý đang là tệ nạn xã hội có chiều hướng ngày càng gia tăng, từ tội phạm về ma tuý sẽ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Bị cáo có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, đến nay chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại phạm tội do lỗi cố ý. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét về nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác; đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo đã trải qua quá trình cải tạo không giam giữ, trải qua thời gian cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, trải qua quá trình cải tạo, giáo dục trong môi trường trại giam nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện tu dưỡng trở thành người công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
[5]. Đối với người nam giới đưa ma túy cho Nguyễn T1, quá trình điều tra, T1 khai nhận người này tên là T2, ở tỉnh Sơn La, khoảng 30 tuổi, là bạn xã hội của T1. T2 cho T1 số ma túy này để sử dụng khi T1 gặp T2 ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 10/9/2024. Ngoài ra, T1 không cung cấp được thông tin nào khác về đối tượng này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý là phù hợp.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu A1 đỏ = 0,2365gam và A1 trắng = 0,1400gam mẫu sau giám định cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 2524/2024”, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
[7]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguyễn T1 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/9/2024).
- Về vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu A1 đỏ = 0,2365gam và A1 trắng = 0,1400gam mẫu sau giám định cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 2524/2024”.
(đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/01/2025).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Nguyễn T1 phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
