|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 26 tháng 02 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Quốc Trị.
- Ông Hà Xuân Ninh.
Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 26/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST- HS ngày 12/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST- HS ngày 12/02/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Anh H, tên gọi khác: không, sinh năm 1983 tại phường P, thành phố, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: số nhà A, ngõ A, đường N, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (nay phường V, thành phố H, tỉnh Ninh bình); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức N (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ là Nguyễn Thị Thúy H1; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại bản án số 113/HSST ngày 21/12/1999 tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 năm tù về tội: “Hiếp dâm trẻ em”, Trần Anh H đã chấp hành xong ngày 30/8/2005; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/10/2024 chuyển tạm giam từ ngày 11/10/2024. (có mặt)
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Ngô Hồng H2, sinh năm 2002; nơi cư trú: xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt).
- - Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình (nay là thành phố H, tỉnh Ninh Bình). (vắng mặt).
- - Chị Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1983: nơi cư trú: phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (nay là phường V, thành phố H, tỉnh Ninh Bình). (vắng mặt).
- - Chị Trần Thị H3, sinh năm 1980: nơi cư trú: phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (nay là phường V, thành phố H, tỉnh Ninh Bình). (vắng mặt).
Người làm chứng: anh Dư Mạnh T và ông Lương Văn C. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Anh H sử dụng trái phép chất ma túy từ cuối năm 2023 đến nay. Để có tiền tiêu sài và sử dụng ma tuý, H nảy sinh ý định mua ma tuý đá về bán lại cho các con nghiện để kiếm lời. Khoảng 09 giờ ngày 03/10/2024, H đi đến khu vực chân cầu N thuộc địa phận xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma tuý đá được gói ngoài bằng nilon màu trắng, với số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, H về nhà ở phố P, phường P, thành phố N rồi lấy một phần ma tuý đá vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức hút. Số ma tuý còn lại, H cất giấu vào trong hộp đựng kính màu đen cùng 01 cóng thuỷ tinh, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng, 01 bật lửa ga màu trắng trên đầu đốt gắn 01 ống kim loại dài 07 cm và 01 bật lửa ga màu đỏ rồi cất hộp đựng kính vào trong một chiếc ba lô màu nâu. Khoảng 17 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B3- 037.60 mang theo ba lô màu nâu bên trong đựng túi nilon màu trắng chứa ma tuý đá đến khu vực xóm A, xã G, H vào quán nước vỉa hè của chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968, trú tại thôn Đ, xã T, huyện H để uống nước. Tại đây, H gặp Ngô Hồng H2, sinh năm 2002, trú tại xóm D, xã G, đang uống nước ở quán. Khi thấy H vào quán, H2 hỏi H có biết chỗ nào bán ma tuý đá giới thiệu cho H2 mua. H hỏi mua bao nhiêu, H2 nói 500.000 đồng. Sau đó, H đi ra xe mô tô lấy trong ba lô ra 01 gói ma tuý đựng trong túi nilon màu trắng đưa cho H2. H2 cầm gói ma tuý và đưa cho H số tiền 500.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho H2, H điều khiển xe mô tô về nhà.
Khoảng 09 giờ ngày 04/10/2024, Ngô Hồng H2 đem số ma tuý đá mua của H đến khu vực triền đê sông H thuộc xóm A, xã G, để sử dụng bằng hình thức hít. Khi H2 vừa sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an huyện G phối hợp với Công an xã G làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phát hiện. Lực lượng Công an thu giữ của H2 01 cóng thuỷ tinh dài 17 cm, uốn hình lưỡi câu, đầu cóng hình bầu, đường kính 02 cm, có 01 lỗ tròn nhỏ đường kính 0,7 cm bên trong bám muội màu đen; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh dài 12 cm, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 vỏ chai nước nhãn hiệu Dasani nắp chai có đục 02 lỗ tròn nhỏ đều có đường kính 0,7 cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10 vỏ màu đen, lắp số thuê bao 0971710035. Sau đó, lực lượng Công an đưa H2 cùng vật chứng về trụ sở Công an huyện để làm việc. H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân đồng thời khai báo toàn bộ quá trình mua ma túy của H ngày 03/10/2024.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/10/2024, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B3-03760 mang theo ba lô màu nâu bên trong cất giấu ma tuý đá đến khu vực xã G để bán ma tuý. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi H điều khiển xe đến khu vực cổng nhà nghỉ H4 thuộc xóm A xã G thì gặp Tổ công tác Công an huyện G phối hợp với Công an xã G làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi cất giấu ma tuý của mình, H tự nguyện lấy từ trong ba lô ra 01 hộp đựng kính màu đen, kích thước (16x16x5) cm bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2) cm, bên trong túi nilon chứa chất dạng tinh thể màu trắng, H khai nhận đó là túi ma tuý đá, H cất giấu nhằm mục đích bán cho người khác để kiếm lời; ngoài ra H còn giao nộp 01 cóng thuỷ tinh kích thước 15 cm uốn hình lưỡi câu, đầu cóng hình bầu, đường kính 02 cm, có 01 lỗ tròn nhỏ kích thước 0,7 cm bên trong bám muội màu đen; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 17 cm, 01 bật lửa ga màu trắng trên đầu đốt gắn 01 ống kim loại dài 07 cm, 01 bật lửa ga màu đỏ cho Tổ công tác Công an huyện. Tổ công tác đã thu giữ các tài sản H giao nộp có đặc điểm nêu trên. Ngoài ra, còn thu giữ 01 ba lô đeo vai màu nâu; 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galaxy A12 vỏ màu đen, lắp số thuê bao di động 0886641983; tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 35B3- 037.60. Sau đó, lực lượng Công an đưa Trần Anh H cùng vật chứng về trụ sở UBND xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Anh H tại phố P, phường P, thành phố N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G thu tại nắp đổ nước của quạt điều hoà cây tại phòng ngủ 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (3x2,5) cm bên trong có bám dính tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài 18 cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu tím dài 11 cm.
Quá trình điều tra, H2 khai nhận trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10 mà lực lượng Công an thu giữ có chứa video Hiệp ghi lại cảnh mua bán ma túy giữa H2 và H ngày 03/10/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G tiến hành kiểm tra điện thoại và sao trích 01 tập tin video liên quan đến nội dung mua bán ma túy ngày 03/10/2024 vào 01 đĩa DVD màu trắng, nhãn hiệu Macxell dung lượng 4,7 GB và niêm phong theo quy định ký hiệu VDH. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện tiến hành mở niêm phong để Trần Anh H được xem tập tin video trên, sau khi xem xong cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong đĩa DVD theo quy định, ký hiệu ĐX.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Trần Anh H, có khối lượng 0,154 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M1 để xác định khối lượng và giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 846/KL-KTHS-MT ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:
Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1539 gam, là ma túy, loại Methamphetamine
Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Ngày 15/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện G ra quyết định trưng cầu giám định số 876, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định về ma túy đối với 01 cóng thủy tinh có bám muội màu đen ký hiệu “CH” thu giữ của Ngô Hồng H2; 01 cóng thủy tinh có bám muội màu đen ký hiệu “QTB”; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng đều bám dính chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu “KX1” thu giữ của Trần Anh H.
- Tại bản Kết luận giám định số 876/KL-KTHS-MT ngày 23/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
Mẫu muội màu đen bám dính trong hai cóng thủy tinh gửi giám định ký hiệu CH và QTB; mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong vỏ túi nilon và trong đoạn ống hút nhựa ký hiệu KX1 đều là ma túy loại Methamphetamine. Lượng Methamphetamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng.
Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKS-GV ngày 09/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Trần Anh H ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Trần Anh H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Anh H từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày bắt tạm giữ ngày 04/10/2024. Phạt bổ xung từ 8.000.000đ đến 10.000.000đ sung công quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 846/KL- KTHS-MT, bên trong gồm: Chất dạng tỉnh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1066 gam là ma túy, loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 ba lô loại đeo vai màu nâu; 01 bật lửa ga màu trắng trên đầu đốt gắn 01 ống kim loại dài 07cm; 01 vỏ phong bì ký hiệu VDH; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 17cm; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu ĐTH; 01 phong bì niêm phong ghi vật chứng còn lại bên trong có 01 vỏ túi nilon mầu trắng kích thước (2x2)cm cùng vỏ niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong dán kín ký hiệu KX2 bên trong có 02 cóng thủy tỉnh chiều dài 12,5cm, bị vỡ bầu cóng, 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng, 01 đoạn ống hút nhựa màu tím cùng vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì ghi mẫu vật hoàn trả số 876/KL-KTHS-MT bên trong gồm 01 vỏ túi nilon, 01 ống hút mầu trắng một đầu được hàn kín, một đầu cắt vát, toàn bộ vỏ gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong ghi mẫu vật hoàn trả số 876/KL- KTHS-MT bên trong gồm 01 cóng thủy tinh ký hiệu QTB toàn bộ vỏ gói niêm phong; 01 phong bì ghi mẫu vật hoàn trả số 876/KL-KTHS-MT bên trong gồm 01 cóng thủy tinh ký hiệu CH toàn bộ vỏ gói niêm phong
- - Truy thu số tiền 500.000 đồng bị cáo H bán ma túy cho H2 mà có, buộc bị cáo H phải nộp 500.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
- - Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di đông nhãn hiệu Glaxy A12.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời nhận tội của bị cáo Trần Anh H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và người chứng kiến, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 846/KL-KTHS-MT ngày 10/11/2024 của phòng K công an tỉnh N và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 12 giờ ngày 04/10/2024 tại khu vực nhà nghỉ H4 thuộc xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, Công an huyện G, phối hợp với Công an xã G kiểm tra hành chính, bị cáo H đã tự giác giao nộp 01 túi nilon trong ba lô và khai nhận đó là ma túy, loại ma túy đá cất giấu nhằm mục đính bán kiếm lời, đồng thời bị cáo H khai nhận, trước đó khoảng 17 giờ ngày 03/10/2024, tại quán nước vỉa hè của chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968 ở thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình (nay là thành phố H, tỉnh Ninh Bình), bị cáo H đã bán 01 gói ma túy loại Methamphetamine cho Ngô Hồng H2, sinh năm 2002 ở xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình với giá 500.000đ.
[2] Bị cáo H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an trên địa phương.
Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định về: “Tội mua bán trái phép chất ma tuý”.
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
.....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghể hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, hành vi bán trái phép ma tuý loại Methamphetamine của bị cáo H cho Ngô Hồng H2 được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo H có nhân thân xấu ngày 21/12/1999 tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 năm tù về tội: “Hiếp dâm trẻ em”, cho đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích.
[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo H đã tàng trữ và bán cho người khác để kiếm lời. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ nghiêm khắc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho bản thân, đồng thời bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ xung: bị cáo H bán ma túy cho người khác nhằm thu lời bất chính nên cần phạt bổ xung là hình phạt tiền thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Ngoài ra trong vụ án này Ngô Hồng H2, là người mua ma túy của bị cáo H ngày 03/10/2024 để sử dụng. Công an huyện G đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H2 về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”, là phù hợp qui định của pháp luật. Về nguồn gốc ma túy bị cáo H khai, mua của người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ ở khu vực cầu N thuộc đại phận xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không có căn cứ để làm rõ, xử lý.
[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- - Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35B3-037.60, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Trần Thị H3, sinh năm 1980, trú tại phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (nay là thành phố H, tỉnh Ninh Bình) là chị gái của bị cáo H. Việc H sử dụng xe mô tô đi mua và bán ma túy, chị H3 không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe mô tô trên cho chị H3, là phù hợp qui định của pháp luật.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10 vỏ màu đen, lắp số thuê bao 0971710035 là tài sản của H2, không liên quan đến việc trao đổi mua bán ma tuý. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại chiếc điện thoại cho H2, là phù hợp qui định của pháp luật.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A12 vỏ màu đen, lắp số thuê bao di dộng 0886641983 là tài sản của bị cáo H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H là phù hợp qui định của pháp luật.
- - Đối với 01 phong bì ghi số 989/KL-KTHS-KTS&ĐT, được niêm phong bên trong gồm: 1 đĩa DVD-R mầu trắng, nhãn hiệu Macxell dung lượng 4,7 GB; 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo H, nên được lưu hồ sơ vụ án là phù hợp qui định của pháp luật.
- - Đối với 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh dài 12 cm, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 vỏ chai nước nhãn hiệu Dasani, nắp chai đục hai lỗ tròn nhỏ đều có đường kính 07 cm thu giữ của Ngô Hồng H2 không có giá trị sử dụng, do đó Công an huyện G đã tịch thu, tiêu huỷ, là phù hợp qui định của pháp luật.
- - Đối với 01 phong bì ghi số 846/KL- KTHS-MT, bên trong gồm: Chất dạng tỉnh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1066 gam là ma túy, loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 03 phong bì đều ghi số 876/KL-KTHS-MT, bên trong có 02 cóng thủy tỉnh, 01 vỏ túi nilon và 01 đoạn ống hút nhựa, cùng toàn bộ vỏ bao gói; 01 ba lô loại đeo vai màu nâu; 01 phong bì ký hiệu KX2, bên trong có 02 cóng thủy tỉnh chiều dài 12,5cm, bị vỡ bầu cóng, 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài 18cm, 01 đoạn ống hút nhựa màu tím dài 11cm cùng vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 hộp đựng kính màu đen; 01 bật lửa ga màu trắng trên đầu đốt gắn 01 ống kim loại dài 07cm; 01 vỏ phong bì ký hiệu VDH; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 17cm; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 phong bì ký hiệu QTA bên trong chứa 01 vỏ túi nilon màu trắng cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu. Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 500.000 đồng do bị cáo H bán ma túy cho H2 mà có, bị cáo đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, do đó cần truy thu số tiền 500.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[8] Về án phí: Bị cáo H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Trần Anh H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 846/KL- KTHS-MT, bên trong gồm: Chất dạng tỉnh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1066 gam là ma túy, loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 ba lô loại đeo vai màu nâu; 01 hộp đựng kính màu đen kích thước (16x6x5)cm; 01 bật lửa ga màu trắng trên đầu đốt gắn 01 ống kim loại dài 07cm; 01 vỏ phong bì ký hiệu VDH; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 17cm; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu ĐTH; 01 phong bì niêm phong ghi vật chứng còn lại bên trong có 01 vỏ túi nilon mầu trắng kích thước (2x2)cm cùng vỏ niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong dán kín ký hiệu KX2 bên trong có 02 cóng thủy tỉnh chiều dài 12,5cm, bị vỡ bầu cóng, 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng, 01 đoạn ống hút nhựa màu tím cùng vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì ghi mẫu vật hoàn trả số 876/KL-KTHS-MT bên trong gồm 01 vỏ túi nilon, 01 ống hút mầu trắng một đầu được hàn kín, một đầu cắt vát, toàn bộ vỏ gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong ghi mẫu vật hoàn trả số 876/KL- KTHS-MT bên trong gồm 01 cóng thủy tinh ký hiệu QTB toàn bộ vỏ gói niêm phong; 01 phong bì ghi mẫu vật hoàn trả số 876/KL-KTHS-MT bên trong gồm 01 cóng thủy tinh ký hiệu CH toàn bộ vỏ gói niêm phong.
- - Truy thu số tiền 500.000 đồng bị cáo H bán ma túy cho H2 mà có, buộc bị cáo H phải nộp 500.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
- - Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di đông nhãn hiệu Glaxy A12.
- Về án phí: bị cáo Trần Anh H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Xử phạt: bị cáo Trần Anh H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 04/10/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). sung công qũy Nhà nước.
Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G.
Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân Tưởng |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Anh Hải PT mua bán trái phép chất ma túy
