|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày 19 tháng 02 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tăng Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Vượng
Ông Nguyễn Văn Quang
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 19/02/2025, Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/TLST-HS, ngày 07 tháng 02 năm 2025 bằng hình thức trực tuyến giữa: điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương với điểm cầu thành phần tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn S, sinh ngày 29/01/1992, tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Cao Lan; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn S1 (đã chết) và bà Hoàng Thị N, sinh năm: 1962; vợ Sầm Thị C, sinh năm 1992; con có 02, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T.
Có mặt tại điểm cầu Trại Tạm giam Công an tỉnh T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Ban Văn P, sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa;
2. Ông Vũ Văn B, sinh năm 1978; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu A, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 23/12/2024 Trần Văn S là người nghiện ma túy một mình điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 19L3- 0720 từ nhà đến khu vực thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Sở gặp một người nam giới khoảng 40 tuổi (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) đứng ở ven đường, S đi xe đến gần và hỏi: “Anh có hàng Heroin không, bán cho em một con”, người nam giới trả lời: “Đưa tiền đây”, Sở đưa 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), người đó cầm tiền rồi đưa Sở 01 (một) gói Heroin bên ngoài gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, Sở cất giấu gói Heroin vào găng tay bên trái kẹp vào giá hàng phía trước xe mô tô rồi điều khiển xe đi về. Khi đến khu vực thuộc thôn Đ, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thì gặp Tổ công tác của Công an xã C đang làm nhiệm vụ, đã yêu cầu Sở dừng xe lại để làm việc. Sở khai nhận bản thân vừa sử dụng trái phép chất ma túy, hiện đang cất giấu gói Heroin ở giá hàng phía trước xe mô tô và tự giác lấy từ trong găng tay kẹp ở giữa giá hàng của xe mô tô 01 gói Heroin bên ngoài gói bằng giấy trắng có dòng kẻ giao nộp cho Tổ công tác. Tổ công tác của Công an xã C đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn S về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Sở, kết quả (+) dương tính.
Tại Kết luận giám định số 60/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy; loại Heroin, có tên khoa học là: Diacetylmorphine; khối lượng 0,224g (Không phẩy hai hai bốn gam)
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S thu giữ: 01 gói Heroin của Trần Văn S (đã niêm phong); 01 xe mô tô nhãn hiệu MANGOSTIN kiểu dáng Wave Alpha; màu sơn xanh; số khung: RNDDCHNND5102347; số máy: VDGZS152FMHM01002347; biển số đăng ký 19L3-0720; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc, không có sim (đều đã qua sử dụng).
Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 25/CT-VKSSD, ngày 06/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Trần Văn S về Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ban Văn P trình bày: Chiếc xe mô tô biển số 19L3-0720 anh mua lại từ một người buôn đồng nát. Khi mua, xe đã cũ nát, không có giấy tờ gì. Sau đó anh có tân trang, sửa chữa và bán lại cho Trần Văn S. Anh xác định chiếc xe trên anh đã bán cho Sở nên không còn quyền lợi gì đối với chiếc xe nữa.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S phạm Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của các thành phần tham gia niêm phong và Trần Văn S; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Văn S giám định ngày 24/12/2024”. Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô gắn biển số 19L3-0720, nhãn hiệu MANGOSTIN, kiểu dáng Wave Alpha, màu sơn xanh, yên xe đã cũ, có 01 gương chiếu hậu bên trái, phần nhựa phía sau có nhiều vết trầy xước, số khung: RNDDCHNND5102347; số máy: VDGZS152FMHM01002347 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc, số máy: MKU62J/A; số sêri: C39RLPF8GRWV; số IMEI: 35 333107 780889 9, tình trạng cũ, máy đã qua sử dụng.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về các căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định; lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
- Về tính chất của hành vi: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
- Về vật chứng:
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của các thành phần tham gia niêm phong và Trần Văn S; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Văn S giám định ngày 24/12/2024”. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) xe mô tô gắn biển số 19L3-0720, nhãn hiệu MANGOSTIN, kiểu dáng Wave Alpha, màu sơn xanh, yên xe đã cũ, có 01 gương chiếu hậu bên trái, phần nhựa phía sau có nhiều vết trầy xước, số khung: RNDDCHNND5102347; số máy: VDGZS152FMHM01002347 (xe đăng ký mang tên Vũ Văn B. Anh B đã bán chiếc xe trên cho một người buôn đồng nát (không biết tên, tuổi, địa chỉ). Anh Ban Văn P mua lại từ một người buôn đồng nát (không biết tên, tuổi, địa chỉ) sau đó bán lại cho Sở); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus, màu bạc, số máy: MKU62J/A; số sêri: C39RLPF8GRWV; số IMEI: 35 333107 780889 9, tình trạng cũ, máy đã qua sử dụng. Đây là những tài sản của Trần Văn S không liên quan đến việc phạm tội, vậy cần trả lại cho bị cáo.
- Các vấn đề khác:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, nhưng bị cáo thuộc diện hộ nghèo đã có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn nộp án phí; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 23/12/2024, tại đoạn đường thuộc thôn Đ, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Trần Văn S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,224g (Không phẩy hai hai bốn gam) Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng là có căn cứ pháp luật.
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy, cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam trong thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát để có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 23/12/2024 của Trần Văn S, Công an huyện S đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo. Xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Sở vào ngày 23/12/2024 tại khu vực thôn H, xã Đ, huyện S do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Về vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của các thành phần tham gia niêm phong và Trần Văn S; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Văn S giám định ngày 24/12/2024".
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô gắn biển số 19L3-0720, nhãn hiệu MANGOSTIN, kiểu dáng Wave Alpha, màu sơn xanh, yên xe đã cũ, có 01 gương chiếu hậu bên trái, phần nhựa phía sau có nhiều vết trầy xước, số khung: RNDDCHNND5102347; số máy: VDGZS152FMHM01002347; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus, màu bạc, số máy: MKU62J/A; số sêri: C39RLPF8GRWV; số IMEI: 35 333107 780889 9, tình trạng cũ, máy đã qua sử dụng (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Xử phạt bị cáo Trần Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/12/2024).
Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ban Văn P có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (19/02/2025); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn B vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Phạm Văn Vượng - Nguyễn Văn Quang | Tăng Thị Hường |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Tuyên Quang;
- - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- - VKSND huyện Sơn Dương;
- - Công an huyện Sơn Dương;
- - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
- - UBND xã Đồng Quý;
- - Bị cáo;
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- - Lưu.
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn S tàng trữ trái phép chất ma túy
