|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày: 20 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương Mai
Ông Vũ Đình Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST- HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Dư Công D - sinh năm 1989; Nơi cư trú: TDP X, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dư Công D1 (đã chết) và bà Cao Thị H; Vợ: Vũ Thị H1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- - Ngày 31/01/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 năm tù giam về tội: “Cướp tài sản”. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
- - Ngày 21/01/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/10/2024, chuyển tạm giam ngày 24/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S. (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Bá B - sinh năm 1992; (Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn D, xã Q (nay là xã Đ), thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
- Chị Hà Thị H2 - sinh năm 1994; (Có mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố X, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 ngày 15/10/2024, tại gia đình Lê Bá Bình sinh 1992, ở thôn D, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Tổ công tác Công an thành phố S, tỉnh Thanh Hóa tiến hành gọi hỏi, giáo dục đối với Lê Bá B. Quá trình làm việc, B khai khoảng 08 giờ 00 ngày 15/10/2024, B mua 05 viên ma túy hồng phiến của Dư Công D ở tổ dân phố X, phường Q, thành phố S với giá 700.000 đồng để sử dụng và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A52 găn sim số 0375673368.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Dư Công D tại tổ dân phố X, phường Q, thành phố S. Thu giữ: Tại thân ống chân quạt ở phòng bếp 01 túi nilong màu trắng, viền màu đỏ kích thước (4x7)cm bên trong có chứa 07 đoạn ống hút có màu sắc, ngắn dài khác nhau được bịt hai đầu, bên trong có chứa tổng cộng 25 viên nén hình tròn màu đỏ trên bề mặt có dập chữ WY màu đỏ và các cục chất bột màu đỏ, dạng viên nén màu đỏ bị vỡ; trong đoạn ống nước được dán băng dính màu đen tại góc bếp 01 đoạn ống hút màu xanh, được bịt kín hai đầu, bên trong chứa 03 viên nén hình tròn màu đỏ trên bề mặt có dập chữ WY (niêm phong ký hiệu M1); 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A1S; 01 điện thoại Nokia 105, gắn sim số 0866839655.
Tại Bản kết luận giám định số 3948/KL-KTHS ngày 21/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- 25 viên nén hình tròn màu đỏ, trên bề mặt mỗi viên đều dập chữ WY và các chất bột màu đỏ dạng viên nén màu đỏ bị vỡ của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,654g loại: Methamphetamine.
- 03 viên ném hình tròn màu đỏ, trên bề mặt mỗi viên đều dập chữ WY của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,280g loại: Methamphetamine.
Tổng cộng khối lượng là: 2,934g loại: Methamphetamine.
Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận: Chiều ngày 14/10/2024, Dư Công D đi xe mô tô từ nhà đến khu vực chân cầu N, thuộc phường Đ, thành phố T gặp người đàn ông chạy xe ôm khoảng 45 tuổi, tên N hỏi mua 40 viên ma túy hồng phiến với giá 3.000.000 đồng. Mua được, D đem về nhà, lấy ra sử dụng hết 06 viên, số ma túy còn lại D chia thành nhiều phần bỏ vào trong các đoạn ống hút nhựa rồi hàn kín hai đầu, cất giấu tại các vị trí khác nhau trong bếp nhà D.
Khoảng 08 giờ 00 ngày 15/10/2024, Lê Bá B dùng số điện thoại 0375.673.xxx gọi đến số điện thoại 0866.839.xxx của D hỏi mua 05 viên ma túy hồng phiến. D đồng ý, báo giá hết 700.000 đồng, nhắn tài khoản ngân hàng A số 3519205173677 mang tên "HA THI HUONG" để B chuyển tiền, hẹn gặp ở đầu đường V giao nhau với đường D, thuộc phường Q, thành phố S để giao ma túy. Sau khi nhận được tiền, D lấy 05 viên hồng phiến đựng trong một ống hút nhựa cất giấu trong bếp rồi đi đến nơi hẹn. B thấy D nên đi lại, D ném đoạn ống hút chứa 05 viên ma túy hồng phiến xuống nền đường, B đi lại nhặt đoạn ống hút chứa ma túy hồng phiến đem về sử dụng, đến 10 giờ 00 ngày 15/10/2024 thì bị phát hiện, khai nhận hành vi sử dụng chất ma túy.
Vật chứng của vụ án: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì kí hiệu M1 và 23 viên nén hình tròn màu đỏ, trên bề mặt mỗi viên đều dập chữ WY có khối lượng là 2.347g của 01 túi ni lông màu trắng, viên đỏ kích thước khoảng (4x7)cm dựng 07 đoạn ống hút có màu sắc, dài ngắn khác nhau được bịt kín hai đầu; 02 viên nén hình tròn màu đỏ, trên bề mặt mỗi viên đều dập chữ WY có tổng khối lượng là 0,185g. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T, Nguyễn Minh N1 và các hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, gắn sim số 0866839655; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 thu giữ của Dư Công D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A52 gắn sim số 0375673368 thu giữ của Lê Bá B. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn.
Cáo trạng số 14/CTr-VKS-HS ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn truy tố Dư Công D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật TTHS.
Đề nghị tuyên bố: Dư Công D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/10/2024. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, gắn sim số 0866839655 thu giữ của Dư Công D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A52 gắn sim số 0375673368 thu giữ của Lê Bá B; Trả lại chi chị Hà Thị H2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15. Theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 30 ngày 21/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT và Chi cục THADS thành phố S.
Truy thu số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) của Dư Công D do bán ma túy cho Lê Bá B mà có.
Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về phần thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng.
[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Dư Công D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Chiều ngày 14/10/2024, Dư Công D mua 40 viên ma túy hồng phiến với giá 3.000.000 đồng về sử dụng và chia nhỏ để bán. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/10/2024, tại khu vực đầu đường V giao nhau với đường D thuộc phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, Dư Công D bán cho Lê Bá B 05 viên ma túy hồng phiến với giá 700.000 đồng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định, các bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn là có căn cứ và đúng pháp luật. Về nguồn gốc ma túy: Dư Công D khai mua của một người đàn ông tên N, không rõ địa chỉ, chạy xe ôm ở khu vực chân cầu N, thuộc phường Đ, thành phố T. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an phường Đ xác định tại khu vực chân cầu N không có đối tượng như D khai báo. Do đó, không đủ cơ sở đề xác định đối tượng bán ma túy cho D để xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Bá B, Dư Công D Công an thành phố S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Với mục đích là mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời, biết được ma túy là hàng cấm, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách, chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, làm mất trật tự an toàn xã hội, xem thường kỷ cương pháp luật. Tính chất vụ án là nghiêm trọng do đó cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Tuy nhiên, khi quyết định mức án và loại hình phạt cần xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS; quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu, 02 lần bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương xét xử về tội “Cướp tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần áp dụng Điều 38 BLHS cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[4] Hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng: - Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và bao gói được niêm phong trong một phong bì của Phòng K Công an tỉnh T. Là vật thuộc danh mục cấm tàng trữ lưu hành cần phải được tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, gắn sim số 0866839655 thu giữ của bị cáo; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A52 gắn sim số 0375673368 thu giữ của Lê Bá B là công cụ phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS;
- - 01 điện thoại OPPO A15 của chị Hà Thị H2, bị cáo D sử dụng mua bán ma túy, chị H2 không biết Dư Công D lấy để sử dụng nên trả lại cho chị H2 theo điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
- - Số tiền 700.000đ là tiền bị cáo bán ma túy cho Lê Bá B, được xác định là tiền do phạm tội mà có, truy thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
[6] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định tại Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS. Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Dư Công D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Dư Công D 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/10/2024.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và bao gói được niêm phong trong một phong bì của Phòng K Công an tỉnh T. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia 105 gắn sim số 0866839655 và 01 điện thoại OPPO A52 gắn sim số 0375673368. Trả lại chị Hà Thị H2 01 điện thoại OPPO A15. (Các vật chứng trên có đặc điểm mô tả đầy đủ rõ ràng và đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự TP Sầm Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng số 17/BBVC-CCTHA ngày 21/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn).
- - Truy thu số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) từ bị cáo Dư Công D để sung vào ngân sách nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Dư Công D.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Nhung |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Phương Mai Vũ Đình Khanh |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Nhung |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
