|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày: 19/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Len và bà Hoàng Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phú Nhuận - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: Đinh Thị P, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1988, tại huyện K, tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: Số nhà I, ngõ B đường N, tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Xuân T và bà Phạm Thị Y; chồng: Phạm Văn T1 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa)
- Người làm chứng:
1. Anh Đinh Xuân T2, sinh năm 1991;
Nơi cư trú: Ngõ G, tổ C phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
2. Bà Phạm Thị Y, sinh năm 1967;
Nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình.
(Anh T2, bà Y đều vắng mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 8 năm 2024, người đàn ông nói tiếng Trung Quốc tự giới thiệu là Su đến cửa hàng của P tại địa chỉ số nhà I, ngõ B đường N, tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. P biết tiếng Trung Quốc nên nói chuyện được với người đàn ông này. Su chỉ nói ở Bắc Ninh, không nói rõ địa chỉ và không cho số điện thoại để liên hệ. Su giới thiệu có chuỗi cửa hàng bán đồ nội địa Trung Quốc muốn hợp tác với P bán thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất nhưng loại thuốc lá điếu này không có hóa đơn chứng từ gì, P hiểu là thuốc lá nhập lậu nên không có ý định mua nhưng ông S nói sẽ chuyển một số bao thuốc lá điếu để lại ở chỗ P với hình thức ký gửi. Thấy không mất khoản chi phí nào, chỉ cần trưng bày nếu có khách mua thì bán còn nếu không bán được thì ông S thu về nên P đã đồng ý. Vì là lần đầu bán ký gửi thuốc lá điếu nên P không tính lãi mà chỉ bán với mục đích chào hàng, số tiền thu được P đã thanh toán hết cho S, P cũng không nhớ cụ thể thời gian và số lượng thuốc lá được giao, số tiền thu về sau khi đã bán. Lần thứ 2, P không nhớ cụ thể thời gian và số lượng thuốc lá Su đã giao, chỉ nhớ mới bán được một ít và còn lại khoảng 50 cây thuốc lá nhiều loại. Lần thứ 3 ngày 10/9/2024, theo yêu cầu của P, S đã giao 140 cây thuốc lá nhiều loại đồng thời nói với P không cần phải liên hệ với S, cứ khoảng 7 đến 10 ngày S sẽ đến cửa hàng để kiểm kê số thuốc lá điếu còn lại và thanh toán tiền.
Chiều ngày 17/9/2024, một người đàn ông đến cửa hàng của P để mua 01 gói cau, 01 gói kẹo và xin tài khoản Wechat của P do P tự lập bằng tiếng Trung Quốc dịch ra tiếng Việt là “Cửa hàng đồ T3 của P” để kết bạn. P lưu tên người này là “Mevius ks Dream”. Đến 18 giờ 26 phút cùng ngày, người này gọi điện thoại cho P, nói “Tôi vừa ở quán của bạn về, không thấy bạn bán thuốc, bạn có bán thuốc lá Trung Quốc không?”, P trả lời là có. Người này bảo P cho xem các loại thuốc lá điếu, P đồng ý rồi chụp ảnh các loại thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất gửi qua điện thoại cho người này xem. Người này đánh dấu hình tròn màu đỏ trên ảnh P gửi vào các cây thuốc lá loại “Lầu” hộp trắng rồi gửi lại hình ảnh đã đánh dấu cho P để hỏi giá. P báo giá 02 cây thuốc lá này là 2.200.000 đồng. Sau khi nhận báo giá, người này đồng ý mua và bảo P mang đến khu vực khách sạn D sẽ có người nhận và trả tiền. Sau lần mua bán 02 cây thuốc lá “Lầu” hộp trắng thành công, người này đã chủ động liên lạc qua Wechat với P để mua hàng và hỏi mua các loại thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất cho những người đang làm việc ở chỗ của
3
mình. Sau đó, người đàn ông này nhắn tin đặt mua 50 cây thuốc lá điếu loại 1916, 150 cây thuốc lá điếu loại Trung Hoa, 60 chai rượu và 10 gói cau, P nhắn lại không có đủ số lượng thuốc lá người này đặt.
Ngày 19/9/2024, người đàn ông này đi cùng với một người đàn ông nữa đến cửa hàng của P hỏi có những loại thuốc lá gì, P nói các loại thuốc lá điếu có sẵn và báo giá, gồm: T3 hoa mềm 09 cây giá 22.050.000 đồng, T3 hoa cứng 09 cây giá 15.480.000 đồng, Liqun 09 cây giá 11.200.000 đồng, R hộp 18 cây giá 32.400.000 đồng, L hộp 10 cây giá 13.000.000 đồng, H sen 10 cây giá 14.000.000 đồng, R trắng 50 cây giá 47.500.000 đồng, Phù dung vàng 10 cây giá 9.500.000 đồng, U thường 10 cây giá 8.500.000 đồng, Baisha 20 cây giá 13.000.000 đồng, U kẻ 10 cây giá 9.500.000 đồng (Giá này P báo tăng thêm 200.000 đồng/1 cây so với giá bán để người này hưởng lợi do mua hộ ông chủ của người này), người này hỏi có phải đặt cọc không thì P trả lời “có, phải có tiền thì mới có hàng được”. Người này đặt cọc cho P 30.000.000 đồng rồi ra về hẹn hôm sau sẽ qua lấy hàng, thanh toán nốt số tiền còn lại. Trưa ngày 20/9/2024, người này quay lại đi cùng với người đàn ông hôm trước đến lấy hàng, P lấy 165 cây thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất như đã đặt ra đóng vào các thùng bìa cát tông, đóng xong P đặt các thùng cát tông tại nền nhà gian bán hàng, 02 người đàn ông này nói với P đi ra ngoài đón kế toán công ty đến thanh toán rồi sẽ quay lại. Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, Tổ công tác, gồm: Đội Quản lý thị trường số A - Cục Quản lý thị trường tỉnh T và Công an tỉnh T đến kiểm tra hành chính cửa hàng, yêu cầu mở các thùng bìa cát tông, khi P mở các thùng bìa cát tông phát hiện có 165 cây thuốc lá điếu (1650 bao thuốc lá điếu) do Trung Quốc sản xuất nhập lậu, không có tem nhãn nhập khẩu, không có phụ đề tiếng Việt và không xuất trình giấy tờ có liên quan. Đồng thời P tự nguyện giao nộp 24 cây thuốc lá điếu (240 bao thuốc lá điếu) do Trung Quốc sản xuất nhập lậu ra giao nộp cho Tổ công tác. Tổng số thuốc lá do Trung Quốc sản xuất nhập lậu thu giữ của P và P đã bán là 191 cây thuốc lá điếu (thu giữ 189 cây, 02 cây đã bán) bằng 1.910 bao thuốc lá điếu.
* Cáo trạng số 10/CT-VKSTB ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Đinh Thị P về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo Đinh Thị P khai nhận diễn biến việc mua bán thuốc lá điếu nhập lậu như đã nêu trên với lý do bán thuốc lá điếu nhập lậu là do bị cáo đã ly hôn chồng vào năm 2018, phải nuôi con nhỏ một mình, cần kinh phí để lo toan việc học hành
4
cho con trong khi việc kinh doanh các mặt hàng nội địa khác chậm hơn thuốc lá nhập lậu nên dù biết mặt hàng này theo quy định không được bán tại thị trường trong nước nhưng bị cáo vẫn nhận ký gửi để bán kiếm lời. Với mỗi cây thuốc lá bán được, bị cáo thu lợi 30.000 đồng. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất hối hận, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt tiền để có điều kiện trực tiếp nuôi con.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Đinh Thị P phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Thị P từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng và nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để bị cáo được sống có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Thái Bình, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại. Các hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo gồm:
- Biên bản kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ số 26010023/BB-KT do Đội quản lý thị trường số A - Cục quản lý thị
5
trường tỉnh T lập ngày 20/9/2024 đối với Cửa hàng T4 nội địa thuộc hộ kinh doanh Đinh Thị P (bút lục số 56 đến số 58);
- Biên bản niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo thủ tục hành chính do Đội quản lý thị trường số A - Cục Q B lập hồi 17 giờ 05 phút ngày 20/9/2024 (bút lục số 111 đến số 113);
- Biên bản làm việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 8 giờ 40 ngày 21/9/2024 về việc xem xét, kiểm tra dữ liệu điện thoại của Đinh Thị P. (bút lục số 157 đến số A);
- Biên bản làm việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 8 giờ 40 phút ngày 21/10/2024 về dịch thuật đoạn trao đổi giữa Đinh Thị P và người được lưu tên “Mevius ks Dream” trên ứng dụng Wechat trong điện thoại của P (bút lục số 50, 51);
- Bản kết luận giám định số 7337/KL-GĐ ngày 24/9/2024 của V1 - Bộ C, kết luận: “Toàn bộ mẫu vật gửi giám định là thuốc lá điếu không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt, nhãn hiệu chữ nước ngoài (YUXI, Furongwang, DIAMOND HEHUA, HUANGHELOU, GOLDEN LEAF, Z, L1, B1, CHUNGHWA, SEPTWOLVES...)
+ Căn cứ khoản 1 và khoản 5, Điều 7 Thông tư số 37/2013/TT-BCT ngày 30/12/2013 của Bộ C1 “quy định nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà”; khoản 6 Điều 3 của Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ: Tất cả các mẫu gửi giám định của vụ án đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để lưu thông trên thị trường Việt Nam.
+ Căn cứ Điều 3 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BYT-BCT ngày 08/02/2013 của Bộ Y1 và Bộ C1 “Thông tư liên tịch hướng dẫn việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá”; Điều 3 Thông tư số 23/2021/TT-BTC ngày 30/3/2021 của Bộ T5 “hướng dẫn về in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử rượu và tem điện tử thuốc lá”: Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam”. (bút lục số 32,33)
- Biên bản làm việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 13 giờ ngày 24/10/2024 đối với ông Vũ Thành V, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 (bút lục số 186,187);
- Biên bản làm việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 8 giờ ngày 24/10/2024 đối với bà Nguyễn Thị H1, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn P1 (bút lục số 188);
6
- Công văn số 1042/PA08 ngày 06/12/2024 của Phòng Q1 Công an tỉnh T về việc trao đổi thông tin, tài liệu (bút lục 193);
- Công văn số 1424/STTTT-TTr ngày 29/11/2024 của Sở Thông tin và truyền thông Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc thông tin người sử dụng Wechat (bút lục 192);
- Biên bản ghi lời khai của người làm chứng: anh Đinh Xuân T2 sinh năm 1991 (em trai của P) trú tại ngõ G tổ C phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình và bà Phạm Thị Y sinh năm 1967 (mẹ đẻ của P) trú tại thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục từ số 261 đến số 271; từ số 272 đến số B);
Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Từ tháng 8/2024 đến ngày 20/9/2024, tại cửa hàng bán tạp hóa của Đinh Thị P ở số nhà I, ngõ B đường N, tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, do một mình P kinh doanh. Qua giao dịch P đã mua tổng số 191 cây thuốc lá, với 15 loại thuốc lá do Trung Quốc sản xuất bằng 1910 bao thuốc lá điếu nhập lậu vào Việt Nam, không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có phụ đề chữ tiếng Việt, không có hóa đơn, giấy tờ chứng minh nguồn gốc là mặt hàng không được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam để bán kiếm lời.
Hành vi đó đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Điều 190. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
b) Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;
[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý thị trường của Nhà nước đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sản xuất và người tiêu dùng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện.
[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
7
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lời bất chính để nộp ngân sách nhà nước. Hoàn cảnh của bị cáo đã ly hôn chồng từ năm 2018 và đang phải một mình nuôi con còn nhỏ. Bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét điều kiện kinh tế, tình hình tài sản, khả năng thi hành án của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo trong phạm vi đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, ngăn ngừa tội phạm đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người lần đầu phạm tội.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
+ Đối với số tiền 30.000.000 đồng người mua thuốc lá điếu nhập lậu đặt cọc và số tiền 2.200.000 đồng tiền Phương bán 02 cây thuốc Lầu hộp trắng nhập lậu cho “Mevius ks Dream” tối ngày 17/9/2024 là tiền thu lợi bất chính, buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách nhà nước. Bị cáo đã nộp số tiền 32.200.000 đồng theo Biên lai số 0003465 ngày 09/12/2024 và Biên lai số 0003495 ngày 03/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
- Đối với 01 điện thoại di động màu trắng không có dán nhãn hiệu, đã qua sử dụng, có IMEI 355551414598220 và IMEI 355551414653983 thu giữ của Đinh Thị P, là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 sim thuê bao số 0984931718 thu giữ của Đinh Thị P, không còn giá trị sử dụng và 1397 bao thuốc lá điếu sau giám định được đựng trong 07 thùng bìa cát tông là vật phạm pháp, cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Các nội dung khác liên quan trong vụ án:
8
+ Đối với người bán thuốc lá tự giới thiệu là Su khoảng 40 tuổi, bị cáo không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có thông tin để điều tra, xử lý.
+ Đối với 02 người đàn ông mua thuốc lá trong đó 01 người có nick wechat “Mevius ks Dream”, bị cáo không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, ra thông báo truy tìm và tra cứu dữ liệu tại Phòng xuất nhập cảnh Công an tỉnh T nhưng đến nay chưa có thông tin nên chưa xử lý được.
+ Đối với số thuốc lá bị cáo đã bán nhưng không nhớ số lượng cụ thể, không có tài liệu nào để xác định nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Đinh Thị P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Thị P phạm tội “Buôn bán hàng cấm".
[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Thị P 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 sim thuê bao số 0984931718 và 1397 bao thuốc lá điếu sau giám định được đựng trong 07 thùng cát tông;
Tịch thu, truy thu số tiền thu lời bất chính là 32.200.000 đồng (Ba mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng), bị cáo đã nộp theo các Biên lai số 0003465 ngày 09/12/2024 và Biên lai số 0003495 ngày 03/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
Tịch thu 01 điện thoại di động màu trắng, có IMEI 355551414598220 và IMEI 355551414653983 không có nhãn hiệu để nộp ngân sách Nhà nước.
(Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án lập ngày 08/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình).
9
[4] Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đinh Thị P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/02/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thuý Hoàn |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về buôn bán hàng cấm (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Buôn bán hàng cấm”
