|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày: 18/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Láng
Ông Dương Xuân Tựu
Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Triệu Xuân Trìu – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tổ chức phiên tòa trực tuyến diễn ra tại các điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bàn Sành P (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 26/7/1979 tại huyện N, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Mù chữ; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Sùn P1, sinh năm 1947 và bà Bàn Mùi L, sinh năm 1946; Có vợ là Lý Mùi K, sinh năm 1985 và 02 con (Con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010); Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 16/7/2018 bị Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo Quyết định số 240/QĐ-XPVPHC.
- Ngày 20/12/2020 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 220/QĐ-UBND.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn từ ngày 15/01/2025 sau đó được chuyển đến giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B kể từ ngày 28/02/2025 cho đến nay.
Có mặt tại điểm cầu thành phần.
* Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Đinh Xuân D – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Lý Mùi K, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Trương Văn V, sinh năm 1969;
- Ông Ma Ngọc T, sinh năm 1978;
- Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Đều vắng mặt.
- Ông Nông Duy K1, ông Nguyễn Đức H, ông Ngô Anh T1 - Cán bộ/Chiến sĩ Đội THAHS&HTTP Công an tỉnh B làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa tại điểm cầu thành phần. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/01/2025 Công an xã Đ, huyện B đang làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn N, xã Đ thì phát hiện Bàn Sành P, sinh năm 1979, trú tại thôn N, xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 97F4-6504 đi trên đường có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra, phát hiện tại lòng bàn tay trái của Bàn Sành P có 01 (Một) gói nhỏ được gói bằng giấy lịch, bên ngoài bọc vỏ nilon màu vàng, bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng. Bàn Sành P khai nhận, chất dạng cục, bột màu trắng trong gói là H1 được P mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong gói nhỏ nghi là ma túy vào phong bì ký hiệu P1.
Ngoài ra, còn thu giữ:
- + 01 (Một) điện thoại di động có bàn phím, nhãn hiệu Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng, sau khi tiến hành kiểm tra nhật ký cuộc gọi, dữ liệu tin nhắn và các ứng dụng khác không phát hiện thông tin, tài liệu gì liên quan đến hành vi vi phạm của P tiến hành nhiêm phong vào phong bì ký hiệu P2;
- + 01 (Một) bơm kim tiêm và 01 (Một) lọ nước cất đều chưa qua sử dụng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu P3.
- + 01 (Một) xe mô tô BKS 97F4-6504 dán nhãn Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, không có gương chiếu hậu bên phải, xe cũ đã qua sử dụng.
Tại biên bản mở, đóng niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng nghi là chất ma túy ngày 15/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xác định: Gói bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Bàn Sành Phâu cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi chất ma túy Heroine có khối lượng là 0,31g (Không phẩy ba một gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu B₁ để gửi giám định. Niêm phong toàn bộ phong bì, lớp túi nilon, giấy gói cũ vào phong bì ký hiệu B2.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan tại chỗ ở của Bàn Sành Phâu tại thôn N, xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn kết quả không phát hiện và thu giữ thêm tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến hành vi vi phạm của P.
Tại bản Kết luận giám định số 68/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H) có khối lượng là 0,31g (Không phẩy ba một gam)”.
Sau giám định, mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 còn lại 0,27g (Không phẩy hai bảy gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T49 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
* Tại giai đoạn điều tra, truy tố: Bàn Sành P khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi vi phạm, số tiền dùng để mua ma túy, số lượng ma túy đã mua và tàng trữ, cụ thể:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/01/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Bàn Sành P điều khiển xe mô tô BKS 97F4-6504 đi từ nhà ở thôn N, xã X, huyện P xuống thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực cổng Trung tâm y tế huyện B, P gặp một người đàn ông không quen biết nhìn giống người nghiện ma túy nên đã hỏi mua với người này được 01 (Một) gói ma túy với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, P đi vào chỗ vắng khu vực chân cầu T ở gần đó trích ra một ít để sử dụng, số ma túy còn lại Phâu gói lại như cũ và cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã Đ thì bị cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang.
Quá trình điều tra còn xác định được Bàn Sành Phâu là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Không có tài liệu chứng minh bản thân hoặc gia đình thuộc diện chính sách, người có công với cách mạng.
Tại cáo trạng số 07/CT-VKSBB ngày 06/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Bàn Sành Phâu về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lý Mùi K là vợ của bị cáo trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, gắn BKS 97F4-6504, tình trạng cũ đã qua sử dụng là tài sản chung của vợ chồng chị K và bị cáo P, được mua vào năm 2023 với một người đàn ông không quen biết mà bị cáo P gặp trên đường đi làm thuê trên địa bàn huyện B, mục đích để sử dụng chung cho cả gia đình. Sau khi mua xe về, chị K và bị cáo P đã giữ nguyên hiện trạng xe, không được tự mình hoặc cho phép người khác sửa chữa, tác động gì nhằm thay đổi kết cấu, bộ phận cũng như thông số kỹ thuật của xe, việc chiếc xe từ khi mua đã được gắn BKS không đúng với dữ liệu đăng ký tại cơ quan quản lý Nhà nước cả chị K và bị cáo P đều không biết. Ngày 15/01/2025 bị cáo P tự ý sử dụng chiếc xe này để đi mua ma túy thì không nói cho chị K biết nên chị không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chỉ tịch thu lại ½ giá trị của chiếc xe đối với phần nghĩa vụ của bị cáo P còn ½ giá trị của chiếc xe thì đề nghị trả lại cho chị K.
- - Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn duy trì quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Bàn Sành P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Xử phạt bị cáo Bàn Sành P từ 24 (Hai mươi tư) đến 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/01/2025 . Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy đối với 03 phong bì niêm phong ký hiệu T49, B2, P3; Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động có bàn phím, nhãn hiệu Viettel được niêm phong trong phong bì ký hiệu P2.
- Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô BKS 97F4-6504, dán nhãn Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng, xác định: Chiếc xe có thông số kỹ thuật được thể hiện tại các tài liệu trong hồ sơ vụ án được đăng ký với BKS khác, việc chiếc xe này được gắn BKS 97F4-6504 là không đúng với cơ sở dữ liệu của cơ quan quản lý có thẩm quyền, do đó chiếc xe này không đủ điều kiện để tham gia giao thông theo quy định. Vì vậy, đề nghị giao chiếc xe này cho Phòng C1 Công an tỉnh B tạm giữ, giải quyết theo quy định.
- + Về án phí: Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
- - Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Việc khởi tố, truy tố, xét xử bị cáo Bàn Sành P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Bàn Sành P mức án 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù; đối với vật chứng là chiếc xe máy, nhất trí với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát giao chiếc xe này cho Phòng C1 Công an tỉnh B tạm giữ, giải quyết theo quy định. Bên cạnh đó, người bào chữa cũng đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phần tranh luận: Bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật đề nghị áp dụng theo bản cáo trạng và phần luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, nhất trí với nội dung bào chữa của người bào chữa, không tự bào chữa, không tranh luận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận và giữ nguyên ý kiến đề nghị lấy lại ½ giá trị của chiếc xe thuộc phần sở hữu của mình.
Người bào chữa tranh luận về nội dung đánh giá nhân thân của bị cáo trong phần luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát đã đối đáp đầy đủ các ý kiến của người bào chữa theo quy định.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về tái hòa nhập gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo và người bào chữa cung cấp: Xét thấy đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của những người chứng kiến tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định:
Vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/01/2025 tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Bàn Sành P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,31g (Không phẩy ba một gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện.
Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Bàn Sành P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ...
c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tội phạm Bàn Sành P thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, là nguyên nhân và nguy cơ làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Nhân thân: Ngày 16/7/2018 bị Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo Quyết định số 240/QĐ-XPVPHC và ngày 20/12/2020 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X, huyện P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 220/QĐ-UBND do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đều đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng 01 (Một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52/BLHS.
[5] Về hình phạt:
Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về hình phạt chính: Xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với thực tiễn xét xử tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng gì có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý Mùi K:
Chiếc xe mô tô tô dán nhãn Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, không có gương chiếu hậu bên phải, hiện đang gắn BKS 97F4-6504, tình trạng cũ đã qua sử dụng: Xét thấy đây là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là sở hữu chung hợp nhất của bị cáo Bàn Sành P và vợ là chị Lý Mùi K. Ngày 15/01/2025 bị cáo P sử dụng chiếc xe để đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy thì chị Lý Mùi K không biết. Do đó, cần trả lại ½ giá trị của chiếc xe cho chị Lý Mùi K.
[7] Về vật chứng:
Gồm có:
- - 01 (Một) phong bì ký hiệu T49, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định cùng phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, túi nilon, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu P3 bên trong có 01 (Một) bơm kim tiêm và 01 (Một) lọ nước cất đều chưa qua sử dụng. Xác định đây là những vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị do đó cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (Một) chiếc điện thoại di động có bàn phím, nhãn hiệu Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng niêm phong tại phong bì ký hiệu P2: Quá trình điều tra bị cáo khai nhận khi đi mua ma túy là bị cáo tự đi tìm người bán ma túy và giao dịch trực tiếp, không liên lạc qua điện thoại. Tiến hành kiểm tra nội dung cuộc gọi, tin nhắn và các ứng dụng trên điện thoại không phát hiện nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội của Bàn Sành P. Do đó, trả lại cho bị cáo theo quy định.
- - 01 (Một) xe mô tô, loại xe hai bánh từ 50-175cm³; nhãn hiệu YAMAHA; số loại SIRIUS; màu sơn đỏ, đen; số khung: RLCS3S3106Y069634; số máy: 3S31069634; dung tích xi lanh 110cm³; năm sản xuất 2006; số chỗ ngồi: 2 người; không có gương chiếu hậu bên phải, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, là công cụ, phương tiện phục vụ cho quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Kết quả xác minh tại quá trình điều tra cho thấy chiếc xe mô tô với thông số kỹ thuật như trên được đăng ký tên chủ xe Hà Ngọc T2, trú tại tiểu khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 26/7/2006 và được cấp BKS 97F4-9423. Tiến hành lấy lời khai đối với ông Hà Ngọc T2 xác định được ông T2 là chủ sở hữu hợp pháp ban đầu đối với chiếc xe trên và qua một thời gian sử dụng thì ông T2 đã bán chiếc xe này cùng toàn bộ giấy tờ xe, biển số gắn theo xe cho một người đàn ông không quen biết từ khoảng năm 2011, việc chiếc xe hiện nay được gắn BKS 97F4-6504 thì ông T2 không biết lý do, hiện nay ông T2 không còn sử dụng hay có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì đến chiếc xe.
Đối với biển số 97F4-6504 (là biển số mà hiện nay đang gắn trên chiếc xe Yamaha Sirius của bị cáo P trong vụ án này): Kết quả xác minh tại quá trình điều tra cho thấy, ngày 08/3/2006 ông Triệu Văn C, trú tại thôn K, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã thực hiện đăng ký đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Nagoasi, màu đen thuộc sở hữu của mình với cơ quan quản lý Nhà nước và được cấp biển số 97F4-6504. Qua một thời gian sử dụng thì ông C đã bán chiếc xe này cùng toàn bộ giấy tờ xe, biển số gắn theo xe cho một người đàn ông không quen biết từ khoảng hơn mười năm trước, việc biển số 97F4-6504 hiện nay được gắn trên chiếc xe khác thì ông C không biết lý do, hiện nay ông C không còn sử dụng hay có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì đến biển số xe này.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo P và vợ là chị Lý Mùi K đều có lời khai thống nhất về nguồn gốc và quyền sở hữu đối với chiếc xe mô tô nói trên, xác định đây là tài sản chung của hai vợ chồng bị cáo được hình thành trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp, được hai vợ chồng cùng nhau mua với một người đàn ông không quen biết từ năm 2023 khi bị cáo P đang trên đường đi làm thuê trên địa bàn huyện B, mục đích mua xe để sử dụng chung cho gia đình. Sau khi mua xe về, chị K và bị cáo P đã giữ nguyên hiện trạng xe, không được tự mình hoặc cho phép người khác sửa chữa, tác động gì nhằm thay đổi kết cấu, bộ phận cũng như thông số kỹ thuật của xe, việc chiếc xe hiện đang gắn BKS không đúng với dữ liệu đăng ký tại cơ quan quản lý Nhà nước thì cả chị K và bị cáo P đều không biết. Ngày 15/01/2025 bị cáo P tự ý sử dụng chiếc xe này để đi mua ma túy thì không nói cho chị K biết nên chị K không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Căn cứ chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định chiếc xe trên là tài sản thuộc sở hữu chung hợp pháp giữa bị cáo P và chị Lý Mùi K, do đó, có căn cứ để tịch thu, sung quỹ nhà nước đối với phần nghĩa vụ của bị cáo là ½ giá trị của chiếc xe và trả lại ½ giá trị còn lại của xe cho chị Lý Mùi K.
- Đối với chiếc biển số 97F4-6504 hiện đang gắn theo chiếc xe Yamaha Sirius của bị cáo P là không đúng quy định, do đó HĐXX xét thấy cần tách chiếc biển số này ra và giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý là Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh B là có căn cứ.
[8] Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bàn S Phâu: Quá trình điều tra không xác định được đối tượng, do đó không có cơ sở để xử lý, xét thấy là phù hợp.
Đối với việc Bàn Sành P sử dụng chiếc xe mô tô dán nhãn Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, gắn BKS 97F4-6504 là tài sản chung của vợ chồng với chị Lý Mùi K để làm phương tiện phạm tội, chị K không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với chị K là có căn cứ, HĐXX xét thấy là phù hợp.
[9] Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân và người bào chữa:
Xét thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và đề nghị của người bào chữa về việc giải quyết vụ án và mức hình phạt tù áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
Về quan điểm xử lý vật chứng là chiếc xe mô tô dán nhãn Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, gắn BKS 97F4-6504 có thông số kỹ thuật như các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện, đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị giao cho cơ quan Công an truy tìm chủ là chưa phù hợp.
Xét các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa đã đủ căn cứ để xác định chiếc xe trên là tài sản thuộc sở hữu chung hợp pháp giữa bị cáo P và chị Lý Mùi K, chiếc xe hiện nay cũng không nằm trong dữ liệu vật chứng của vụ án khác, chiếc xe là phương tiện được bị cáo trực tiếp sử dụng làm công cụ phục vụ cho hành vi phạm tội, do đó cần phải tịch thu, sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo là cá nhân thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí, xét thấy cần chấp nhận miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điểu 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 29, 33, 37 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 244 Bộ luật Dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bàn Sành P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bàn Sành P 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/01/2025.
[3]. Về vật chứng:
[3.1]. Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (Một) phong bì ký hiệu T49, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định cùng phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, túi nilon, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu P3 bên trong có 01 (Một) bơm kim tiêm và 01 (Một) lọ nước cất đều chưa qua sử dụng.
[3.2]. Tịch thu, hóa giá đối với: 01 (Một) xe mô tô, loại xe hai bánh từ 50-175cm³; nhãn hiệu YAMAHA; số loại SIRIUS; màu sơn đỏ, đen; số khung: RLCS3S3106Y069634; số máy: 3S31069634; dung tích xi lanh 110cm³; năm sản xuất 2006; số chỗ ngồi: 2 người; không có gương chiếu hậu bên phải, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng.
Trong đó, tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị của chiếc xe (không kèm biển số), trả lại ½ giá trị còn lại của chiếc xe (không kèm biển số) cho chị Lý Mùi K, sinh năm 1985, trú tại thôn N, xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
- Đối với 01 (Một) biển số xe ký hiệu 97F4-6504: Giao Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh B tạm giữ, bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật.
[3.3]. Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) chiếc điện thoại di động có bàn phím, nhãn hiệu Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu P2.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 08/5/2025 giữa Công an tỉnh B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).
[4]. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Linh |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/01/2025 tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Bàn Sành P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,31g (Không phẩy ba một gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
