Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 15/12/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Củng Trần Lương
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Vương Thị Xuyến;
Bà Lương Thị Nhiễu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hồng - Thư ký viên của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tự - Kiểm sát viên.

Ngày 15/12/2025 tại Toà án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 18/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 01/12/2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H; sinh năm 1991 tại xã M, tỉnh Tuyên Quang; CCCD số: 002xxxxxxxxx, cấp ngày: 05/10/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; nơi cư trú: Thôn T, xã M, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1965; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/9/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh T. (Có mặt);

  2. Nguyễn Văn H1; sinh năm 1995 tại xã M, tỉnh Tuyên Quang; CCCD số: 002xxxxxxxxx, cấp ngày: 03/10/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; nơi cư trú: Thôn N, xã M, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1978; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/9/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh T. (Có mặt);

- Các bị hại:

  1. Chị Đặng Thị N1, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn C, xã B, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
  2. Anh Ly Mí N2, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
  3. Anh Vàng Mí H3, sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn K, xã M, tỉnh Tuyên Quang. (có mặt);
  4. Chị Thò Thị D, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn H, xã P, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Ma Nhật L, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn N, xã Y, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
  2. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn P, xã M, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
  3. Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn N, xã M, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
  4. Chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn N, xã M, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
  5. Chị Lê Thị T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn P, xã M, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Những người làm chứng: Nguyễn Văn D1, Hoàng Văn C (Vắng mặt không có lý do), Trần Văn H6. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Mua Mí C1, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn P, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt).

Người phiên dịch tiếng Nùng: Ông Vương Trí T1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn P, xã Y, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt có lí do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 30/8/2025 Nguyễn Văn H đến nhà Nguyễn Văn H1 chơi. Tại đây H rủ H1 cùng nhau vào Bệnh viện Đ1 để trộm cắp tài sản, nên H1 đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày H, H1 cùng nhau đi vào khu vực căng tin của Bệnh viện Đ1 ngồi chờ. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 31/8/2025 lợi dụng lúc nửa đêm và các bệnh nhân đã ngủ say nên H bảo H1 ngồi ở ghế căng tin đợi, còn H sẽ trực tiếp đi vào các khoa để trộm cắp tài sản, nghe H nói vậy H1 đồng ý và ngồi ở ghế đợi, còn H trực tiếp đi thực hiện hành vi trộm cắp cụ thể:

Lần 1:

Hiệu đi theo hành lang đến vị trí cửa sổ phòng điều trị của Khoa cấp cứu của Bệnh viện thì nhìn thấy gần cửa sổ có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10S màu xanh dương (điện thoại của Ly Mí N2) để trên tủ đựng đồ cá nhân kê sát với cửa sổ. Thấy vậy, H dùng tay phải luồn qua khoảng trống giữa các song cửa sổ rồi lấy trộm chiếc điện thoại cho vào túi quần bên phải và mang ra đưa cho H1 đang ngồi ở ghế chờ cất giấu, lúc này vào khoảng 00 giờ 50 phút cùng ngày.

Lần 2:

Hiệu tiếp tục đi theo hành lang đến vị trí tầng hai buồng hậu phẫu 3 thuộc Khoa ngoại tổng hợp thì Hiệu nhìn thấy có một chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme V11 5G màu đen (điện thoại của Vàng Mí H3) để ở đầu giường bệnh sát với cửa sổ. Thấy vậy, H dùng tay phải luồn qua khoảng trống giữa các song cửa sổ rồi lấy trộm chiếc điện thoại cho vào túi quần bên phải và tiếp tục quay ra đưa cho H1 cất giấu.

Lần 3:

Lúc này thấy chưa có ai phát hiện nên H tiếp tục đi theo hướng ban đầu đi theo hành lang đến vị trí buồng 2 của Khoa nội của Bệnh viện thì H nhìn thấy có một chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo 1820 màu đen (điện thoại của Thò Thị D) để trên tủ để đồ cạnh giường bệnh. Thấy vậy, H dùng tay phải cầm lấy chiếc điện thoại rồi cho vào túi quần bên phải và mang ra đưa cho H1 cầm để cất giấu, lúc này vào khoảng 01 giờ 40 phút cùng ngày.

Lần 4:

sau khi H1 cất điện thoại H tiếp tục đi theo hành lang đến vị trí buồng bệnh sau đẻ số 01 của K sản, H nhìn thấy một chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y19S màu bạc (điện thoại của Đặng Thị N1) để ở đầu giường bệnh. Thấy vậy, H dùng tay phải cầm lấy chiếc điện thoại rồi mang ra đưa cho H1 cất giấu, lúc này khoảng 01 giờ 50 phút, nên H bảo H1 đi ra ngoài Bệnh viện trước đợi H còn H quay lại xem các phòng để tiếp tục tìm tài sản để trộm cắp, H1 đồng ý và đi ra.

Lần 5:

Khi thấy H1 đứng dậy thì H quay lại vị trí buồng sau đẻ số 01 của Khoa sản (vị trí mà H đã lấy trộm chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y19S màu bạc trước đó) Hiệu nhìn thấy một túi xách để ở phía đầu giường bênh nên dùng tay phải cầm lấy chiếc túi xách màu trắng (của Đặng Thị N1) rồi đi ra ngoài Bệnh viện thì gặp H1 đang đứng đợi ở ngoài, lúc này H và H1 cùng nhau mở túi xách ra kiểm tra thì thấy bên trong túi có tiền và một số giấy tờ cá nhân khác, H cầm lấy tiền cho vào túi quần bên phải, còn chiếc túi và một số giấy tờ khác bên trong túi H vứt vào chân tường rào của Bệnh viện, lúc này vào khoảng 02 giờ 10 phút cùng ngày. Sau đó H và H1 đi bộ đến nhà nghỉ B ở thôn T, xã Y, tỉnh Tuyên Quang lấy phòng 303 để ngủ. Khi lên đến phòng nghỉ H và H1 lấy số tài sản đã trộm cắp được lại kiểm tra thấy gồm: bốn chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng và số tiền 3.450.000 đồng. Sau đó, H đưa cho H1 một chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme V11 5G màu đen để sử dụng còn lại số tiền và ba chiếc điện thoại thì H là người trực tiếp cầm. Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày H, H1 dậy và thanh toán tiền phòng cho Ma Nhật L số tiền 200.000 đồng, rồi hai người đi vào xã M, tỉnh Tuyên Quang chơi, sau đó H mang 01 điện thoại trộm cắp được đi phá khóa tại của hàng Nguyễn Văn H1 hết 250.000 đồng; mua hàng và trả nợ cho Nguyễn Thị H4 và Nguyễn Thị H5 mỗi người hết 65.000 đồng; trả cho Lê Thị T hết 90.000 đồng và chi trả một số đồ khác không nhớ cụ thể, tổng số tiền trộm cắp được H7 đã chi tiêu cá nhân hết 2.095.000 đồng. Còn lại số tiền là 1.355.000 đồng.

Ngày 01/9/2025 Công an xã Y, tỉnh Tuyên Quang tiếp nhận đơn tố giác của Đặng Thị N1, Ly Mí N2, Vàng Mí H3 và Thò Thị D trình báo về việc: Vào rạng sáng ngày 31/8/2025 N2, H3 và D phát hiện bị mất mỗi người một chiếc điện thoại, còn Đặng Thị N1 mất một chiếc điện thoại và số tiền 3.450.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang kết luận:

  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y19S, màu bạc trị giá: 2.700.000 đồng.
  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi Note 10S, màu xanh dương trị giá: 1.600.000 đồng;
  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi V11 5G, màu đen trị giá: 1.500.000 đồng;
  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo 1820, màu đen, trị giá: 400.000 đồng;
  • - 01 (một) Túi xách màu trắng (dạng túi da, không rõ nhãn hiệu, năm sản xuất) trị giá: 170.000 đồng;
  • Tổng giá trị tài sản là: 6.370.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redmi Note 10S, màu xanh (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme V11 5G, màu đen (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo 1820, màu đen (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y19S, màu bạc (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) túi xách dạng da màu trắng (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) giấy tạm ứng viện phí số 2500034675 ngày 28/8/2025 mang tên Đặng Thị N1;
  • - 01 (một) thẻ bảo hiểm y tế số HN2020220990368 cấp ngày 30/10/2018 mang tên Đặng Thị N1;

- Số tiền 1.355.000 đồng do Nguyễn Văn H trộm cắp được chưa sử dụng đến và H đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra.

- Số tiền 670.000 đồng là số tiền mà H đã chi tiêu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tự nguyện giao nộp lại cho cơ quan điều tra gồm: Ma Nhật L; Nguyễn Văn H1; Nguyễn Thị H4; Nguyễn Thị H5; Lê Thị T.

Ngày 02/9/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV8 ngày 18/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh:
  • Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về hình phạt:
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 02/9/2025).
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 02/9/2025).
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • - Về vật chứng:
  • Đã xử lý xong toàn bộ vật chứng.
  • - Về trách nhiệm dân sự:
  • Các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đề nghị các bị cáo phải bồi thường gì nên không đề cập xem xét.
  • - Về án phí:
  • Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H1 thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.

Bị hại Vàng Mí H3 không có ý kiến đề nghị các bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Đối với đơn xin xét xử vắng mặt của các bị hại Đặng Thị N1; Ly Mí N2; Thò Thị D đề nghị về trách nhiệm hình sự xử lý các bị cáo theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Đối với đơn xin xét xử vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ma Nhật L, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị H4, Nguyễn Thị H5, Lê Thị T đề nghị về trách nhiệm hình sự xử lý các bị cáo theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Các bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức xã hội, các bị cáo phải biết rằng: Tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật, Nhà nước bảo vệ. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa đúng như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố về thời gian, địa điểm, ngoài ra còn thể hiện tại biên bản xác định hiện trường, biên bản xác minh, bản kết luận định giá tài sản, biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo được thể hiện cụ thể như sau: Do có mục đích trộm cắp tài sản để tiêu xài cá nhân, bị cáo Nguyễn Văn H đã rủ bị cáo Nguyễn Văn H1 cùng đi trộm cắp tài sản tại bệnh viện Đ1. Từ khoảng 00 giờ 30 phút đến khoảng 02 giờ 10 phút ngày 31/8/2025 Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H1, lợi dụng sơ hở của các chủ sở hữu lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại Đặng Thị N1, Ly Mí N2, Vàng Mí H3 và Thò Thị D. Tài sản trộm cắp được gồm: bốn chiếc điện thoại giá trị 6.370.000 đồng và một chiếc túi xách dạng túi da màu trắng trong túi xách có số tiền là 3.450.000 đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo H, H1 trộm cắp được là 9.820.000 đồng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Điều 173 BLHS quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

[2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự xã hội trên địa bàn mà các bị cáo gây án nói riêng, xã Y nói chung. Hai bị cáo đều là thanh niên có sức khỏe nhưng lười lao động lại muốn có tiền chi tiêu cho mục đích cá nhân nên các bị cáo đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác của chủ tài sản để lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, cần có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[3] Trong vụ án này có tính chất đồng phạm, tuy nhiên là đồng phạm giản đơn theo Điều 17 của BLHS do không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng bị cáo. Để cá thể hóa hình phạt theo Điều 58 Bộ luật hình sự, HĐXX đánh giá cụ thể từng hành vi phạm tội của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H là người chủ mưu, khởi xướng và là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án. Đối với bị cáo Nguyễn Văn H1 tuy không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng thống nhất ý trí phạm tội với bị cáo H, thực hiện hành vi cất giấu tài sản và cùng sử dụng tiền sau khi trộm cắp được và được chia cho chiếc điện thoại Realme V11 5G để sử dụng, do đó bị cáo H1 giữ vai trò giúp sức tích cực trong vụ án. Như vậy, trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu mức án nghiêm khắc hơn so với bị cáo Nguyễn Văn H1.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần, liên tục trong một đêm, do vậy cần áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Xét về nhân thân: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, xuất thân từ gia đình lao động, ăn học không đến nơi đến chốn. Các bị cáo đều là người nghiện ma túy, đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo còn hạn chế, là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

[8] Căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân của các bị cáo. HĐXX xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người biết sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời nhằm răn đe, giáo dục cũng như để phòng ngừa chung đối với các loại tội phạm.

[9] Về xử lý vật chứng: Ngày 27/10/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số C189/QĐ-CSHS, tiến hành trả lại số tài sản đã tạm giữ cho các bị hại gồm:

  • [9.1] Trả lại cho Đặng Thị N1: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y19S, màu bạc; 01 (một) túi xách dạng da màu trắng; 01 (một) giấy tạm ứng viện phí số 2500034675 ngày 28/8/2025 mang tên Đặng Thị N1; 01 (một) thẻ bảo hiểm y tế số HN2020220990368 cấp ngày 30/10/2018 mang tên Đặng Thị N1 và tổng số tiền 2.025.000 đồng.
  • [9.2] Trả lại cho Ly Mí N2: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redmi Note 10S, màu xanh;
  • [9.3] Trả lại cho Vàng Mí H3: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme V11 5G, màu đen;
  • [9.4] Trả lại cho Thò Thị D: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo 1820, màu đen;

Xét thấy các vật chứng đã trả lại không làm ảnh hướng đến việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án, nên HĐXX không đề cập xem xét.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay và đơn đề nghị xin vắng mặt của các bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không đề cập xem xét.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[13] Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[14] Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, Công an xã Y, tỉnh Tuyên Quang tiến hành test ma túy đối với các bị cáo, kết quả dương tính với chất ma túy nên Công an xã Y đã ra các quyết định xử phạt hành chính số 46/QĐ-XPHC và quyết định số 47/QĐ-XPHC ngày 02/9/2025 bằng hình thức “Cảnh cáo” đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[15] Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[16] Tại phiên tòa các bị hại Đặng Thị N1, Ly Mí N2, Thò Thị D, những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ma Nhật L, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị H4, Nguyễn Thị H5, Lê Thị T, người làm chứng Trần Văn H6 có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng Nguyễn Văn D1, Hoàng Văn C không có lí do, tuy nhiên những người này đã có lời khai trong vụ án nên việc vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không làm ảnh hưởng đến việc làm sáng tỏ vụ án. Trong vụ án này người làm chứng Hoàng Văn C là người dân tộc Nùng, không nói được tiếng phổ thông tuy nhiên đã vắng mặt tại phiên tòa nên việc vắng mặt người phiên dịch tiếng Nùng là anh Vương Trí T1 không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng.

[17] Biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam để đảm bảo thi hành án đối với các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Hình phạt chính:

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 02/9/2025.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 02/9/2025.

    Hình phạt bổ sung:

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

    Biện pháp ngăn chặn:

    Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam đối với các bị cáo với thời hạn là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

  3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, bị hại Vàng Mí H3, báo cho các bị cáo, bị hại Vàng Mí H3 biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/12/2025).

    Báo cho các bị hại Đặng Thị N1, Ly Mí N2, Thò Thị D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

    Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - PC06 Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - THADS tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND khu vực 8;
  • - Công an xã Yên Minh;
  • - Phòng THADS khu vực 8;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Củng Trần Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H1 rủ nhau trộm cắp tài sản tại Bệnh viên đa khoa xã Y, tỉnh Tuyên Quang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger