|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 14 - 4 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thắng và bà Trần Thị Ngọc Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993 tại huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Phan Thị D; vợ, con: chưa có; Có 02 tiền án: năm 2018 và năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST, ngày 27/11/2018 và 18 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24 ngày 08/7/2022; tiền sự: không; nhân thân: năm 2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B (nay thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Q), từ ngày 11/11/2024 cho đến nay, theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Văn L, sinh năm 2002, tại huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B (nay thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Q), từ ngày 11/11/2024 cho đến nay, theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Khắc Q; sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 11/11/2024, Nguyễn Ngọc T rủ Nguyễn Văn L trú ở cùng thôn với T đi mua ma túy về để sử dụng, thì L đồng ý. Cả hai thống nhất L bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đi mua ma túy về sử dụng chung. L đưa cho T số tiền 500.000 đồng và điều khiển xe mô tô chở T đến khu vực trước nhà nghỉ “Tưởng C”, thuộc Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, thì T nhìn thấy một nam thanh niên không rõ lai lịch đứng bên đường, T bảo L dừng xe mô tô và đứng đợi, còn T đi bộ một mình đến dò hỏi và mua từ người thanh niên này 01 đoạn ống nhựa màu sọc trắng – xanh được dán kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy dạng đá với giá 500.000 đồng. T giấu ma túy vào lòng bàn tay phải rồi quay lại gặp L. Khi biết T mua được ma túy, L điều khiển xe mô tô chở T đi tìm nơi để sử dụng. Khi đến đoạn đường nội phường, thuộc khu phố F, phường B, thị xã B, thì bị Công an thị xã B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ các vật liên quan.
Tại Bản kết luận giám định số 1246/KL-KTHS ngày 14/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: mẫu gửi giám định là 01 đoạn ống nhựa màu sọc trắng – xanh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,236g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Vật chứng và xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã thu giữ: 01 đoạn ống nhựa sọc màu trắng - xanh được dán kín, bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamine; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 73K1-2227; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, có gắn thẻ sim 0343421897 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, có gán thẻ sim 0845045345.
Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSBĐ ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Nguyễn Ngọc T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 và truy tố Nguyễn Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L từ 12 đến 15 tháng tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên ngoài có ghi nội dung “1246/KL-KTHS” được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, bên trong có chất ma túy và toàn bộ vỏ bao gói; trả lại cho anh Nguyễn Khắc Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 73K1-2227; trả lại cho Nguyễn Ngọc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, có gắn thẻ sim 0343421897 và trả lại cho Nguyễn Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, có gắn thẻ sim 0845045345.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa, có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều là hợp pháp.
-
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ về thời gian, địa điểm, khối lượng chất ma tuý, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: vào khoảng 18 giờ, ngày 11/11/2024, Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Theo Kết luận giám định, khối lượng ma túy là 0,263 gam. Các bị cáo tàng trữ số ma túy trên nhằm mục đích để sử dụng. Bị cáo Nguyễn Ngọc T tại thời điểm phạm tội đang có hai tiền án. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 và hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất ma tuý, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
-
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét mức độ giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
-
Về hình phạt: Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo.
-
Xét vụ án có hai bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T là người khởi xướng rủ rê bị cáo L góp tiền để mua ma túy. Nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm chính với mức án nghiêm khắc hơn so với bị cáo L.
-
Xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định là loại chất mà nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô BKS 73K1-2227 là phương tiện mà bị cáo Nguyễn Văn L đã sử làm phương tiện chở T đi mua ma túy. Tuy nhiên, trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thu thập trong quá trình điều tra thể hiện, giấy đăng ký xe mang tên Trần Xuân H1, trú tại thị trấn B, huyện Q tỉnh Quảng Bình (nay là phường B, thị xã B) được Phòng C1 Công an tỉnh Q cấp vào ngày 04/11/1996, (BL49, 53). Sau đó anh H1 đã bán lại cho anh Nguyễn Khắc Q, sinh năm 1983, trú tại: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy xác định tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của của anh Nguyễn Khắc Q. Quá trình bị cáo Nguyễn Văn L mượn sử dụng vào việc phạm tội, anh Q hoàn toàn không biết. Riêng 02 chiếc điện thoại đã thu giữ của các bị cáo cũng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại các tài sản trên cho các chủ sở hữu là phù hợp.
-
Liên quan trong vụ án có người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Ngọc T, nhưng do bị cáo không biết rõ tên, tuổi cụ thể, nên chưa có cơ sở để xử lý trong vụ án này. Việc Cơ quan điều tra tiếp tục lập hồ sơ theo dõi, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau là phù hợp.
-
Án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
- - Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 11/11/2024).
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 11/11/2024).
Tiếp tục tạm giam các bị cáo với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo cho việc thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được dán kín, bên ngoài có ghi nội dung “1246/KL-KLHS” được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, bên trong có chất ma túy và toàn bộ võ bao gói.
- - Trả lại 01 xe mô tô, BKS 73K1-2227 cho anh Nguyễn Khắc Q.
- - Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, có gắn thẻ sim 0343421897 cho bị cáo Nguyễn Ngọc T.
- - Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, có gán thẻ sim 0845045345 cho bị cáo Nguyễn Văn L.
Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/3/2025) đối với người có mặt hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định đối với người vắng mặt./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Tình |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Trung cùng đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
