Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 14-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Đức Cơ và ông Nguyễn Tiến Bộ.

- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Nhâm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 và Thông báo hoãn phiên tòa số: 08/2025/HSST-QĐ ngày 14/01/2025, đối với:

- Bị cáo: Lê Quang T, sinh ngày 03/8/2010.

Tên gọi khác: không có.

Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

Nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S và bà Trần Thị N; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 24/10/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/11/2024. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

+ ông Lê Văn S, sinh năm 1984 (bố đẻ của bị cáo). Có mặt.

Nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

+ bà Trần Thị N, sinh năm 1990 (mẹ đẻ của bị cáo). Có mặt.

Nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Ngọc C – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H. Có mặt.

- Bị hại:

+ bà Trần Thị V, sinh năm 1958. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

+ ông Trần Văn V1, sinh năm 1956. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/10/2024, bà Trần Thị V, sinh năm 1958 trú tại: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội trình báo về việc: khoảng 13 giờ 05 phút ngày 24/10/2024, gia đình bà bị Lê Quang T là hàng xóm đối diện vào nhà bà cầm dao nhọn đe doạ bà và chồng là ông Trần Văn V1, sinh năm 1956 để yêu cầu bà đưa tài sản, lợi dụng lúc ông V1 giằng co với T, bà chạy ra ngoài sân hô hoán, T cầm dao đuổi theo bà, sau đó bỏ chạy ra đường.

Công an thị trấn Đ phối hợp Cơ quan điều tra công an huyện M tiến hành rà trích dữ liệu camera của gia đình bà Trần Thị V và triệu tập Lê Quang T làm việc, Lê Quang T tự nguyện giao nộp: 01 áo chống nắng màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 khẩu trang màu trắng, 02 găng tay vải màu trắng, 01 dao gấp màu trắng chất liệu kim loại có đầu dao nhọn, dài 17,1cm, phần lưỡi dao dài 7,1cm, phần chuôi dao dài 9,5cm.

Quá trình điều tra làm rõ như sau:

Đầu tháng 09/2024, Lê Quang T, sinh ngày 03/8/2010, trú tại: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M mượn điện thoại của Phùng Hải Đ, sinh năm 2010 (là bạn cùng học), trú cùng thôn để tải Game chơi. Do lúc thoát tài khoản G đã làm mất tài khoản Game của Đ, trong tài khoản của Đ có nạp số tiền 2.200.000 đồng nên Đ yêu cầu T phải trả Đông số tiền này, Đông liên tục đòi tiền nhưng T không có tiền để trả. Ngày 22/10/2024, Đ bảo T trả trước 350.000 đồng để Đ tổ chức sinh nhật. Sáng ngày 24/10/2024, Đ tiếp tục đòi tiền T, do không có tiền trả nên T hứa hẹn đến chiều cùng ngày sẽ trả tiền và nảy sinh ý định sang nhà bà Trần Thị V là hàng xóm đối diện để trộm cắp tài sản.

Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Quang T mặc áo chống nắng màu đen, quần dài màu đen, đầu đội mũ lưỡi trai màu đen, đeo khẩu trang màu trắng, đem theo 01 dao gấp lưỡi kim loại màu trắng, 02 chiếc túi nilon màu đen để

trong túi quần, 01 đôi găng tay vải màu trắng để trong túi áo trèo tường rào vào sân nhà bà Trần Thị V rồi đeo hai găng tay vào tay, bao hai túi nilon đen vào chân, tay cầm dao lén lút đi vào trong nhà bà V mục đích để tìm lấy trộm tài sản, khi vào phòng khách thấy bà V đang nằm ngủ trên ghế thì có tiếng chuông báo từ điện thoại bà V phát ra, bà V tỉnh dậy hỏi “Ai đấy”, T không trả lời, chạy đến áp sát bà V, một tay cầm dao nhọn, một tay khống chế bà V và đe dọa “Nhà có tiền, mang hết ra đây”, bà V thấy vậy giằng co và hô “Ôi, cướp, ối trời ơi, cướp”, thì ông Trần Văn V1 là chồng bà V từ phòng ngủ chạy ra hô hào, T thấy vậy cầm dao chạy sang để khống chế ông V1 thì bà V chạy ra ngoài sân hô hét. T hoảng sợ nên cầm dao đuổi theo bà V, dồn ép bà V vào tường, giơ dao lên trước mặt bà V tiếp tục đe dọa, bà V tiếp tục hô hoán “Cướp, Cướp”, ông V1 chạy ra sân xông vào tóm áo của T thì T bỏ chạy trốn về nhà. Sau đó T bị Công an triệu tập đến trụ sở để làm việc.

Cáo trạng số 82/CT-VKS-MĐ ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố Lê Quang T về tội Cướp tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố, ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được tiếp tục đi học.

Bị hại xác nhận: bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản và không gây thương tích gì cho bị hại nên không có đề nghị bị cáo phải bồi thường và xin Hội đồng xét xử miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xem xét giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo còn nhỏ, nhận thức chưa đầy đủ, nhất thời phạm tội.

Người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo đều có quan điểm: nhất trí với tội danh và nội dung hành vi phạm tội như trong Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; do bị cáo ở độ tuổi vị thành niên, phát triển chưa đầy đủ về tinh thần, thể chất và nhận thức nên bột phát, nhất thời phạm tội; phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ và áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, thể hiện chính sách hình sự khoan hồng đối với người chưa thành niên phạm tội, phát huy tác dụng và mục đích giáo dục của hình phạt để bị cáo có điều kiện tiếp tục học tập, tu dưỡng, sửa chữa trở thành người có ích cho gia đình, xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Quang T 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về tang vật: tịch thu tiêu hủy 01 áo chống nắng màu đen, 01 quần dài màu đen, 02 chiếc găng tay vải màu trắng, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 khẩu trang màu trắng, 01 dao gấp màu trắng chất liệu kim loại có đầu dao nhọn, dài 17,1cm phần chuôi dao dài 9,5cm thu giữ của Lê Quang T do không còn giá trị sử dụng.

- Về trách nhiệm dân sự: do Lê Quang T chưa chiếm đoạt được tài sản, chưa gây thương tích gì cho bà V, ông V1, các bị hại đều không yêu cầu T phải bồi thường nên không đề nghị xem xét.

- Về án phí và quyền kháng cáo: do bị cáo chưa đủ 16 tuổi, là trẻ em nên được miễn án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: do cần tiền để trả nợ cho bạn nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 24/10/2024, Lê Quang T đã có hành vi dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm áp sát, khống chế, dọa vợ chồng bà Trần Thị V, ông Trần Văn V1 đều trú tại Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M yêu cầu họ đưa tiền nhằm chiếm đoạt tài sản; do bà V, ông V1 phản kháng, hô hào nên Lê Quang T bỏ chạy và chưa chiếm đoạt được tài sản.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên đã phạm vào tội “Cướp tài sản”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố đối với Lê Quang T theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, xét thấy cần phải xử lý nghiêm.

[3] Xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo là học sinh, tại thời điểm thực hiện hành vi cướp tài sản bị cáo mới 14 tuổi 02 tháng 21 ngày nên tâm, sinh lý, nhận thức chưa phát triển hoàn thiện; bị cáo bột phát, nhất thời phạm tội; mục đích ban đầu là trộm cắp tài sản, nhưng bị phát hiện nên mới đe dọa sử dụng vũ lực và tội phạm chuyển hóa; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự, nhà trường có văn bản xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được tiếp tục học tập, nên có căn cứ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và đủ điều kiện áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung.

Ngoài ra khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng thêm các quy định về xử lý hình sự với người dưới 18 tuổi phạm tội theo các Điều 90, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân có khả năng tự cải tạo; để bảo đảm lợi ích tốt nhất và phát huy tác dụng giáo dục, giúp đỡ người phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, việc không cách ly xã hội đối với bị cáo không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên chỉ cần phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự đối bị cáo cũng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là trẻ em, học sinh đang đi học nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Đối với 01 áo chống nắng màu đen, 01 quần dài màu đen, 02 chiếc găng tay vải màu trắng, 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 khẩu trang màu trắng, 01 dao gấp màu trắng chất liệu kim loại có đầu dao nhọn, tại phiên tòa Lê Quang T không có yêu cầu nhận lại, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: do bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản, chưa gây thương tích gì cho bị hại nên cả bà V và ông V1 đều không yêu cầu T phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo là trẻ em nên được miễn án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử cũng khuyến nghị gia đình bị cáo cùng nhà trường tăng cường công tác quản lý, giáo dục đối với con em, học sinh của mình nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ phát triển lành mạnh về tinh thần và thể chất, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Cướp tài sản”.

    Xử phạt Lê Quang T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    Giao Lê Quang T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Toà án không xem xét, giải quyết.
  3. Về vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu huỷ 01 áo chống nắng màu đen, 01 quần jean màu đen, 01 mũ lưỡi trai vải màu đen, 01 khẩu trang màu trắng, 02 chiếc găng tay vải màu trắng, 01 dao gấp màu trắng chất liệu kim loại.

    Tình trạng, số lượng và đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức ngày 27/11/2024.

- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Quang T.

- Quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Đức H

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức;
  • - Cơ quan THAHS huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND thị trấn Đại Nghĩa (thay TBKQXX);
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị cáo.
  • - Bị hại;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Đức Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (cướp tài sản)

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger