TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày: 13-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Minh Lý.
Ông Trần Văn Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn H; sinh năm 1957, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: số B, đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; con ông Trần C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); vợ Nguyễn Thị Ú và có 02 người con, người lớn sinh năm 1984, người nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: tại bản án số 09/HSST ngày 17-4-2000, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số 20/HSST ngày 25-01-2002 bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản. Tại bản án số 132/2013/HSST ngày 31-12-2013, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tất cả các bản án đều đã được xóa án tích). Ngày 08-11-2017, bị Công an huyện B, tỉnh Bình Dương xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, nộp phạt ngày 14-11-2017; bị tạm giữ ngày 24-10-2024, tạm giam ngày 02-11-2024 đến nay, có mặt.
2. Nguyễn Hồng P; sinh năm 1968, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: số 3/16/8, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú hiện nay: số B, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ học vấn 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; con ông Nguyễn Văn C1 và bà Trương Thị T (đã chết); vợ Nguyễn Thị T1 (đã chết) và có 01 người con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không có. Nhân thân: tại bản án số 65/HS-ST ngày 29-6-1990, bị Tòa án nhân dân huyện Thủ Đức (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, tại bản án số 73/HSST ngày 14-12-1994, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 20 năm tù về tội “Giết người” và “Cướp tài sản của công dân” (các bản án đều đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 24-10-2024, tạm giam ngày 02-11-2024 đến nay, có mặt.
- Bị hại: Bà Trương Thị T2, sinh năm: 1954. Địa chỉ: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 24-10-2024, do không có tiền tiêu xài nên 02 bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Hồng P rủ nhau đi trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền. Đến 10 giờ 05 phút cùng ngày, bị cáo P điều khiển xe môtô biển số 68G1-472.91 chở bị cáo H đến khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, các bị cáo nhìn thấy bà Trương Thị T2 đang bán tạp hóa tại tiệm “Anh T3” nên bị cáo P dừng xe lại, lúc này bị cáo H đi vào gặp bà T2 hỏi mua 01 thẻ cào điện thoại di động nhà mạng V, mệnh giá 20.000 đồng, bà T2 lấy trong ví cầm tay màu xám đen 01 thẻ cào bán cho bị cáo H. Sau khi bán xong, bà T2 để ví vào trong thùng nhựa màu đỏ; lúc này, bị cáo P đi vào giả vờ hỏi mua chuối nên bà T2 đi lại vị trí nơi bị cáo P đứng, lợi dụng sơ hở, bị cáo H lén lút lấy trộm ví của bà T2 bên trong có số tiền Việt Nam 190.000 đồng; 10 thẻ cào mạng Viettel mệnh giá 100.000 đồng; 13 thẻ cào mạng V mệnh giá 50.000 đồng; 13 thẻ cào mạng V mệnh giá 20.000 đồng; 04 thẻ cào mạng Mobifone mệnh giá 100.000 đồng; 12 thẻ cào mạng Mobifone mệnh giá 50.000 đồng; 20 thẻ cào mạng Mobifone mệnh giá 20.000 đồng; 07 thẻ cào mạng Vietnamobile mệnh giá 50.000 đồng; 06 thẻ cào mạng Vietnamobile mệnh giá 20.000 đồng; 09 thẻ cào mạng Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng; 08 thẻ cào mạng Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng, bị cáo Hữu bỏ vào trong túi quần và đi bộ ra khỏi tiệm khoảng 20 mét thì bị bà T2 phát hiện truy hô, bị cáo P điều khiển xe môtô chở bị cáo H bỏ chạy thì bị người dân bắt giữ giao Công an xử lý.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 24-10-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: 01 ví cầm tay màu xám đen; 10 thẻ cào mạng Viettel mệnh giá 100.000 đồng; 13 thẻ cào mạng V mệnh giá 50.000 đồng; 13 thẻ cào mạng V mệnh giá 20.000 đồng; 04 thẻ cào mạng Mobifone mệnh giá 100.000 đồng; 12 thẻ cào mạng Mobifone mệnh giá 50.000 đồng; 20 thẻ cào mạng Mobifone mệnh giá 20.000 đồng; 07 thẻ cào mạng Vietnamobile mệnh giá 50.000 đồng; 06 thẻ cảo mạng Vietnamobile mệnh giá 20.000 đồng; 09 thẻ cào mạng Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng; 08 thẻ cào mạng Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng. Tổng cộng tài sản có giá trị là 4.400.000 đồng.
Hiện đang tạm giữ của bị cáo P 01 xe môtô, biển số 68G1-472.91, nhãn hiệu Honda, loại xe AirBlade, 01 điện thoại di động, màu tím REALME 5F, tạm giữ của bị cáo H 01 điện thoại di động, màu xanh đen, hiệu VIETTEL
Qua xác minh, các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Hồng P không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.
Qua làm việc, bà Trương Thị T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSTrB ngày 06-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Hồng P về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Hồng P mỗi bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không phạt tiền bổ sung các bị cáo.
Vấn đề bồi thường thiệt hại đã xử lý xong nên không đặt ra giải quyết. Vật chứng giải quyết theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng Bị cáo H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình làm công dân tốt. Bị cáo P đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Vợ bị cáo đã chết, 01 mình bị cáo nuôi con nhỏ (13 tuổi), bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và nuôi dạy con nhỏ, bị cáo hứa không tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại bà Trương Thị T2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt bị hại không trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Hồng P đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận định giá tài sản, các chứng cứ có trong hồ sơ cùng lời luận tội của Kiểm sát viên. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Lúc 10 giờ 05 phút ngày 24-10-2024, tại tiệm tạp hóa “Anh T3” thuộc khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Hồng Phúc lợi D sơ hở của bị hại là bà Trương Thị T2 đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bà T2 là 01 ví bên trong có tiền Việt Nam là 190.000 đồng, cùng 102 thẻ cào điện thoại các loại với nhiều mệnh giá khác nhau, có giá là 4.400.000 đồng, tổng cộng tài sản có giá trị là 4.590.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[4] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, thuộc trường hợp đồng phạm giảm đơn do các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ cụ thể với nhau trước khi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do các bị cáo không chịu lao động lương thiện để sinh sống, lại muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài một cách bất hợp pháp. Cho nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo thì thấy:
[5.1] Cả 02 bị cáo đều có nhân thân xấu. Cụ thể: Bị cáo H đã 03 lần bị Tòa án xét xử và 01 lần bị xử phạt vi phạm hình chính cùng về hành vi “Trộm cắp tài sản (tất cả các bản án và quyết định xử phạt vi phạm hành chính đều đã được xóa án tích). Bị cáo P: 02 lần bị Tòa án xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; “Giết người” và “Cướp tài sản của công dân” (các bản án đều đã được xóa án tích).
[5.2] Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử cần xem xét và quyết định hình phạt tương xứng với tính chất mức độ và hành vi phạm tội của từng bị cáo, để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
[7] Do các bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là phù hợp.
[8] Về biện pháp tư pháp:
[8.1] Đối với 01 xe mô tô, biển số 68G1-472.91, nhãn hiệu Honda, loại xe AirBlade do chị Đỗ Thị Bé C2, sinh năm: 1990, ngụ tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Bị cáo Phúc trình bày xe do bị cáo mua nhưng chưa sang tên. Qua xác minh chị C2 đã bỏ địa phương đi đâu không rõ nên Cơ quan điều tra không làm việc được. Qua làm việc với anh trai của chị C2 là anh Đỗ Hoàng D1 cung cấp, anh có biết việc chị C2 đã bán xe nhưng bán cho ai anh không rõ. Như vậy hiện chưa xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, trong khi chiếc xe lại là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Do vậy, cần giao Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Tây Ninh tiến hành thông báo trong thời hạn nhất định, nếu không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
[8.2] Đối với 01 điện thoại di động của bị cáo P và 01 điện thoại di động của bị cáo H, các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp
Việc xử lý vật chứng như trên là phù hợp với Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 228 của Bộ luật Dân sự.
[9] Như những nhận định trên thì lời luận tội và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T là phù hợp nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24-10-2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng P 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24-10-2024.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự Điều 228 của Bộ luật Dân sự:
3.1 Bị hại bà Trương Thị T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
3.2 Giao Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh thông báo trong thời hạn 12 tháng đối với 01 (một) xe môtô, biển số 68G1-472.91, nhãn hiệu Honda, loại xe AirBlade, màu sơn đỏ bạc đen, số khung RLHJF6308FZ171262, số máy JF63E1525345, dung tích xi lanh 125cm³ (đã qua sử dụng). Hết thời hạn thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
3.3 Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, màu xanh đen, hiệu VIETTEL, số IMEI1: 860224075099866,số IMEI2: 860224075099874 (đã qua sử dụng), bên trong có chứa 01 Sim 4G Viettel: 8984048008824456806; 01 (một) điện thoại di động, màu tím REALME 5F, số IMEII: 863800041393918, số IMEI2: 863800041393900 (đã qua sử dụng), bên trong có gắn 02 (hai) sim số seri: 89840810008743213601 và 8984048000926868198.
Tất cả vật chứng trên Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã T đang quản lý.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Vân Quỳnh |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Hữu, cdp "Trộm cắp tài sản"
