TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - THÁI NGUYÊN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày: 11-12-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Long Thị Thịnh
Bà Lê Thị Khuyên
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Thượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS, ngày 29 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nông Thị H, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1979; tại: Xã X, tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã X, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn M (tên gọi khác: M1) (đã chết) và bà Triệu Thị D (đã chết); chồng: Nông Văn M2; có 02 con; tiền án: không; tiền sự: 01, ngày 25/11/2024 bị Công an xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nay là Công an xã X, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi Đánh bạc (Quyết định số 01/QĐ-XPHC). Hiện chưa hết hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/11/2025 đến nay (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Lệ Q, Trợ giúp viên Pháp lý của Trung tâm T1 tỉnh Thái Nguyên, (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:
- + Ông Nông Văn M3, sinh năm 1977 (Có mặt);
- + Ông Nông Văn C, sinh năm 1970 (Có mặt);
- + Anh Triệu Phúc K, sinh năm 1998 (Vắng mặt);
- + Ông Triệu Kim M4, sinh năm 1972 (Vắng mặt);
- + Bà Lý Thị T, sinh năm 1973 (Vắng mặt);
- + Bà Lý Thị M5, sinh năm 1977 (Vắng mặt);
- + Bà Hoàng Thị X, sinh năm 1971 (Có mặt);
- + Bà Lý Thị B, sinh năm 1977 (Vắng mặt);
- + Ông Triệu Kim A, sinh năm 1979 (Có mặt);
- + Ông Lý Sinh B1, sinh năm 1969 (Vắng mặt);
- + Ông Lý Sinh A1; sinh năm 1970 (Có mặt);
Cùng trú tại: Thôn N, xã X, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng: Chị Nông Thị C1, sinh năm 1991, trú tại: Thôn N, xã X, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 00 phút ngày 16/7/2025 tại thôn N, xã X, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác Công an xã X đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự thì phát hiện lập biên bản tại nhà ông Nông Văn M3, có 12 (mười hai) đối tượng đang đánh bạc trong nhà bằng hình thức sóc đĩa được thua bằng tiền, gồm: Nông Văn M3; Nông Văn C; Triệu Phúc K; Triệu Kim M4; Lý Thị T; Lý Thị M5; Hoàng Thị X; Lý Thị B; Triệu Kim A; Lý Sinh B1; Nông Thị H; Lý Sinh A1, cùng trú tại thôn N, xã X, tinh T. Nông Thị C1, sinh năm 1991, trú cùng thôn N có mặt tại chiếu bạc nhưng không tham gia đánh bạc. Thu giữ trên chiếu bạc: số tiền 1.940.000 đồng; 01 (một) chiếc đĩa sứ màu trắng; 01 (một) chiếc bát sứ màu trắng; 04 (bốn) quân vị bằng tre, một mặt màu trắng, một mặt màu đen; 01 (một) chiếu nhựa, trên mặt chiếu có in dòng chữ “Chiếu N – Việt Nam”. Tạm giữ trên người: Nông Văn M3 số tiền 200.000 đồng; Triệu Kim A số tiền 300.000 đồng; Triệu Phúc K số tiền 400.000 đồng; Lý Sinh B1 số tiền 360.000 đồng; tạm giữ 08 (tám) chiếc điện thoại di động trên người các đối tượng.
Quá trình điều tra xác định: Chiều ngày 16/7/2025, Lý Sinh A1, Nông Thị H, Lý Sinh B1, Lý Thị T, Lý Thị M5, Hoàng Thị X, Triệu Phúc K, Triệu Kim M4 đến nhà Nông Văn Mùi (vợ là Lý Thị B) để sửa, lợp lại mái nhà sàn, đến tối cùng ngày mọi người cùng nhau ăn cơm uống rượu tại nhà Nông Văn Mùi. Trong lúc ăn cơm uống rượu thì có Triệu Kim A đến chơi uống rượu cùng, sau đó có Nông Thị C1 đến chơi. Khoảng hơn 20 giờ mọi người ăn cơm xong, một số người ngồi uống nước tại gian bếp, thì có Nông Văn C đến chơi. Tại gian phòng khách trong nhà M3 có Nông Thị H và một số người khác ngồi uống nước đánh bài tú lơ khơ (không được thua bằng tiền), nói chuyện vui với nhau, cùng lúc này Triệu Phúc K ở gần đó thấy và nói ai đánh sâm thì đánh, ai đánh bạc thì đánh, nói xong K đi ra khu vực bếp của gia đình ông M3 lấy một mảnh tre, dùng dao tại bếp chặt vót nhỏ, lấy dây cao su đốt cháy hơ một mặt mảnh tre thành màu đen. Sau đó K chặt mảnh tre thành 04 quân vị hình chữ nhật, rồi đến chạn bát nhà ông M3 lấy một bát sứ và một đĩa sứ, để 04 quân vị vào trong chiếc đĩa sứ này cầm vào trong nhà vị trí H và một số người khác đang ngồi tại chiếu nhựa. H cầm bát đĩa lên xóc thử và mọi người ngồi ở đó có đoán chơi với nhau, được khoảng 20 phút có Lý Sinh Bảo vào ngồi cạnh H, B1 cầm bát đĩa lên xóc thử mấy lần thì những người khác đến ngồi và cùng nhau đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền, 12 đối tượng đánh bạc ngồi theo một hình tròn trên chiếu nhựa gồm: Nông Thị H, Lý Thị M5, Nông Văn C, Nông Văn M3, Lý Thị T, Hoàng Thị X, Lý Thị B, Triệu Kim A, Lý Sinh A1, Triệu Phúc K, Triệu Kim M4, Lý Sinh B1. Quá trình đánh bạc Lý Sinh B1 là người cầm cái xóc đĩa, người chơi đặt tiền cược theo quy ước mỗi ván chơi có hai cửa, bên phía tay trái người cầm cái xóc đĩa là cửa lẻ, bên phía tay phải người cầm cái là cửa chẵn để cho những người chơi lựa chọn đặt tiền cược vào cửa mà mình muốn. Người cầm cái cho 04 (bốn) quân vị vào bộ bát đĩa xóc lên rồi đặt xuống cho người chơi đặt tiền, số tiền đặt cược tùy người chơi từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng một lượt, người chơi đặt tiền xong thì mở bát. Không có người mở bát cố định, người nào cũng có thể tự nhận mở bát, nếu có hai hoặc cả bốn quân vị cùng một màu thì là chẵn và người đặt tiền ở cửa chẵn thắng còn người đặt tiền ở cửa lẻ thua, nếu có một quân vị có màu khác với ba quân vị còn lại thì là lẻ và người đặt tiền ở cửa lẻ thắng, người đặt tiền ở cửa chẵn thua, số tiền thắng cược tương đương với số tiền đã đặt cửa, người nào thua thì mất toàn bộ số tiền mà mình đã đặt cược. Sau khi xác định được người thắng, người nhận mở bát lấy tiền của người thua trả cho người thắng theo tỷ lệ được thua là một ăn một. Nếu số tiền đặt hai cửa không bằng nhau thì người mở bát sẽ nhận phần chênh lệch, nếu thắng người mở bát được hưởng phần chênh lệch tiền giữa của thắng và cửa thua, ngược lại nếu thua thì người mở bát phải bù số tiền chênh lệch để trả cho cửa thắng, nếu có chênh lệch tiền đặt giữa các cửa mà không có người nhận thì ván đó không mở bát, chơi lại ván khác. Quá trình đánh bạc Nông Thị C1 có mặt tại chiếu bạc nhưng không tham gia đánh bạc. Đến 22 giờ 00 phút cùng ngày, Công an xã X phát hiện lập biên bản, thu giữ các vật chứng nêu trên.
Khi đánh bạc, Nông Thị H dùng 700.000 đồng đánh bạc (gồm 200 nghìn đồng mượn của Nông Thị C1 và 500 nghìn đồng lấy tiền nợ của Nông Văn C); Lý Thị M5 dùng 60.000 đồng đánh bạc; Nông Văn C dùng 380.000 đồng đánh bạc; Nông Văn M3 dùng 450.000 đồng đánh bạc; Lý Thị T dùng 50.000 đồng đánh bạc; Hoàng Thị X dùng 300.000 đồng đánh bạc; Lý Thị B dùng 10.000 đồng đánh bạc; Triệu Kim A dùng 150.000 đồng đánh bạc; Lý Sinh A1 dùng 30.000 đồng đánh bạc; Triệu Phúc K dùng 400.000 đồng đánh bạc (gồm 100 nghìn đồng K mang theo và 300 nghìn đồng Kim thắng bạc); Triệu Kim M4 dùng 10.000 đồng đánh bạc; Lý Sinh B1 dùng 100.000 đồng đánh bạc. Bị can Nông Thị H và các đối tượng có mặt tại chiếu bạc xác nhận số tiền bị thu giữ trên chiếu bạc 1.940.000 đồng và số tiền thu giữ trên người Triệu Phúc K 400.000 đồng là tiền của H cùng các đối tượng dùng đánh bạc. Xác định tổng số tiền các đối tượng dùng đánh bạc là 2.340.000 đồng, số tiền thu trên người Nông Văn M3 200.000đ, Triệu Kim A 300.000đ, Lý Sinh B1 360.000đ không dùng vào đánh bạc.
Tại thời điểm đánh bạc ngày 16/7/2025, Nông Thị H có 01 tiền sự, Quyết định số 01/QĐ-XPHC ngày 25/11/2024 của Công an xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nay là Công an xã X, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt vi phạm hành chính đối với Nông Thị H về hành vi Đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 26/11/2024, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Nông Thị H khai nhận: Chiều ngày 16/7/2025 H cùng một số người khác đến nhà ông M3 hộ sửa mái nhà, đến tối ăn cơm tại đây, sau khi ăn cơm xong H và mọi người đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức xóc đĩa, tại gian phòng khách nhà sàn của Nông Văn M3, ngồi bên tay phải của H là Lý Sinh B1, có tổng số 12 người tham gia đánh bạc, H được dùng 700.000 đồng đánh bạc khi bị công an kiểm tra số tiền này đang ở trên chiếu bạc. Nông Thị C1 không tham gia đánh bạc ngày 16/7/2025.
Qua điều tra xác định, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không có tiền án, quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không phải chịu tình tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
+ Các vật chứng chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Thái Nguyên quản lý theo quy định gồm:
- - 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu B1, bên trong có: 01 đĩa sứ màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bát sứ màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 04 (bốn) quân vị bằng tre, một mặt màu trắng, một mặt màu đen;
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T, bên trong có số tiền 3.200.000 đồng;
- - 01 (một) chiếc chiếu nhựa, cũ đã qua sử dụng, trên chiếu có in dòng chữ “Chiếu Nhựa – Việt Nam”;
+ Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định 08 chiếc điện thoại di động đã tạm giữ trên người các đối tượng không sử dụng vào việc đánh bạc, không cần thiết phải tiếp tục tạm giữ, Cơ quan điều tra đã trả lại các đồ vật, tài sản bị tạm giữ cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ, gồm:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone cho Nông Văn M3;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redlme cho Nông Văn C;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung cho Lý Sinh A1;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO cho Nông Thị H;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung cho Hoàng Thị X;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung cho Triệu Kim M4;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO cho Lý Thị M5;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO cho Nông Thị C1;
Với hành vi trên, Bản Cáo trạng số: 01/CT-VKSKV ngày 28/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nông Thị H về tội:
“Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025). Điều luật có nội dung:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nông Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Nông Thị H theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nông Thị H phạm tội: “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Đề nghị:
- - Xử phạt bị cáo Nông Thị H từ 20 tháng đến 26 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Về khấu trừ thu nhập hàng tháng, hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định bị cáo Nông Thị H thuộc hộ nghèo, không có công việc, thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- - Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, cụ thể:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu B1, bên trong có: 01 đĩa sứ màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bát sứ màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 04 (bốn) quân vị bằng tre, một mặt màu trắng, một mặt màu đen; 01 (một) chiếc chiếu nhựa, cũ đã qua sử dụng, trên chiếu có in dòng chữ “Chiếu Nhựa – Việt Nam”;
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.340.000đ là tiền của bị cáo H và các đối tượng dùng để đánh bạc;
- + Trả lại cho ông Nông Văn M3 số tiền 200.000đ, ông Triệu Kim A số tiền 300.000đ, ông Lý Sinh B1 số tiền 360.000đ là số tiền thu được trên người các đối tượng không dùng vào đánh bạc.
- - Về án phí: Gia đình bị cáo Nông Thị H thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội.
Trong phần tranh luận người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự nhưng tiền sự này đã sử dụng để định tội đối với bị cáo vì số tiền bị cáo cùng những người khác đánh bạc dưới 05 triệu đồng; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Số tiền bị cáo cùng những người khác dùng để đánh bạc không lớn, thấp hơn rất nhiều so với mức khởi điểm để xử lý hình sự, tính sát phạt của hành vi đánh bạc của bị cáo không lớn; Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, bản thân bị cáo Nông Thị H chỉ học hết lớp 2 nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51/BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét toàn diện vụ án để cho bị cáo Nông Thị H được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ với mức thấp nhất theo Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo đã rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương với mức án thấp nhất để có điều kiện chăm lo cho gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng Triệu Phúc K, Triệu Kim M4, Lý Thị T, Lý Thị M5, Lý Thị B, Lý Sinh B1 và người làm chứng Nông Thị C1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Việc những người này vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hướng đến việc giải quyết vụ án, vì trong quá trình điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Tại phiên tòa bị cáo Nông Thị H khai nhận: Chiều ngày 16/7/2025 H cùng một số người khác đến nhà ông M3 hộ sửa mái nhà, đến tối ăn cơm tại đây, sau khi ăn cơm xong H và mọi người đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức xóc đĩa, tại gian phòng khách nhà sàn của Nông Văn M3, ngồi bên tay phải của H là Lý Sinh B1, có tổng số 12 người tham gia đánh bạc, H được dùng 700.000 đồng đánh bạc khi bị công an kiểm tra số tiền này đang ở trên chiếu bạc.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp.
Mặc dù số tiền bị cáo và các đối tượng khác dùng để đánh bạc dưới 5.000.000đ nhưng do trước đó ngày 25/11/2024 bị cáo đã bị Công an xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nay là Công an xã X, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc với số tiền là 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 26/11/2024, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, hành vi đánh bạc lần này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321/BLHS.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- - Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự: Ngày 25/11/2024 bị Công an xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nay là Công an xã X, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi Đánh bạc (Quyết định số 01/QĐ-XPHC). Hiện chưa hết hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài ra ngày 17/11/2021 bị Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nay là Công an tỉnh T) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi Đánh bạc, đã chấp hành xong và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính (Quyết định số 266/QĐ-XPHC).
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51/BLHS.
[4]Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền mà bị cáo đánh bạc không lớn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế; Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51/BLHS, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, có đủ điều kiện áp dụng Điều 36/BLHS cho bị cáo được hưởng Cải tạo không giam giữ để thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung: Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành xác minh thể hiện bị cáo Nông Thị H thuộc diện hộ nghèo, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng khấu trừ thu nhập hàng tháng và hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với các quy định của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự.
- - Đối với số tiền 2.340.000,đ bị cáo H và các đối tượng dùng để đánh bạc cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- - Đối với những đồ vật sau là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu B1, bên trong có: 01 đĩa sứ màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bát sứ màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 04 (bốn) quân vị bằng tre, một mặt màu trắng, một mặt màu đen; 01 (một) chiếc chiếu nhựa, cũ đã qua sử dụng, trên chiếu có in dòng chữ “Chiếu N – Việt Nam”.
- - Đối với số tiền 200.000đ của ông Nông Văn M3, số tiền 300.000đ của ông Triệu Kim A, số tiền 360.000₫ của ông Lý Sinh B1 quá trình điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định số tiền này không sử dụng vào việc đánh bạc nên cần được trả lại.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T với Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Thái Nguyên).
- Đối với 08 chiếc điện thoại di động đã tạm giữ trên người các đối tượng không sử dụng vào việc đánh bạc, không cần thiết phải tiếp tục tạm giữ, Cơ quan điều tra đã trả lại các đồ vật, tài sản bị tạm giữ cho chủ sở hữu hợp pháp nên HĐXX không xem xét, gồm:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone cho Nông Văn M3;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redlme cho Nông Văn C;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung cho Lý Sinh A1;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO cho Nông Thị H;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung cho Hoàng Thị X;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung cho Triệu Kim M4;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO cho Lý Thị M5;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO cho Nông Thị C1;
[6] Về các vấn đề khác:
- Đối với hành vi đánh bạc ngày 16/7/2025 của 11 đối tượng Lý Thị M5, Nông Văn C, Nông Văn M3, Lý Thị T, Hoàng Thị X, Lý Thị B, Triệu Kim A, Lý Sinh A1, Triệu Phúc K, Triệu Kim M4, Lý Sinh B1 và hành vi Nông Văn M3 sử dụng nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình chứa chấp việc đánh bạc, thời điểm thực hiện hành vi các đối tượng này đều chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng không đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ tài liệu có liên quan đến Cơ quan Công an tỉnh T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi của những người này theo thẩm quyền là có căn cứ.
- Đối với hành vi Nông Thị C1 cho Nông Thị H vay số tiền 200.000 đồng tại nhà Nông Văn Mùi, khi cho H vay tiền những người này chưa đánh bạc, C1 không biết mục đích H vay tiền dùng vào việc đánh bạc, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý hành vi này của C1 là đúng.
[7] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Nông Thị H phạm tội "Đánh bạc".
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Xử phạt bị cáo Nông Thị H 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Không khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Nông Thị H cho UBND xã X, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Tiếp tục C2 đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nông Thị H trong thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.340.000đ (Hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) bị cáo H và các đối tượng dùng để đánh bạc.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu B1, bên trong có: 01 đĩa sứ màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bát sứ màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 04 (bốn) quân vị bằng tre, một mặt màu trắng, một mặt màu đen; 01 (một) chiếc chiếu nhựa, cũ đã qua sử dụng, trên chiếu có in dòng chữ “Chiếu N – Việt Nam".
- - Trả lại cho ông Nông Văn M3 số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- - Trả lại cho ông Triệu Kim A số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
- - Trả lại cho ông Lý Sinh B1 số tiền 360.000₫ (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T với Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Thái Nguyên).
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Thị H.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Thái Nguyên(1);
- - VKSND tỉnh Thái Nguyên(1);
- - VKSND khu vực 8 - Thái Nguyên (2);
- - Bị cáo (1);
- - Người có QL,NVLQ, người làm chứng (11);
- - Người bào chữa (1);
- - Phòng THADS khu vực 8 - Thái Nguyên (1);
- - Công an tỉnh Thái Nguyên (2);
- - Phòng PC10 CAT Thái Nguyên (1);
- - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CAT Thái Nguyên (01);
- - THAHS (1);
- - Lưu hồ sơ vụ án (1);
- - Lưu Văn phòng (1).
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thanh Bình
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Thị H phạm tội Đánh bạc
