Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 07 tháng 03 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết

Thẩm phán: ông Lâm Thuận Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Nguyễn Văn Duy Linh; ông Võ Chí Hùng, ông Trần Công Lập.

Thư ký phiên toà: bà Lê Ngọc Như Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Thị Kim C, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1987, tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký HKTT, chỗ ở: tổ B, ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn O và bà Nguyễn Thị Kim T; chồng Trương Văn D; có 02 người con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Kim C: Ông Nguyễn Đức K là Luật sư, Văn phòng luật sư Nguyễn Đức K, thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).

Bị hại: Hộ kinh doanh N; Địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.

Chủ hộ kinh doanh anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt);

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Đoàn Phi L, sinh năm 1961; địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  2. Trần Thị V, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  3. Phan Hữu N, sinh năm 1985; Nơi đăng ký hộ khẩu TT: Ấp Thượng, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở: Khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  4. Trương Thị K1, sinh năm 1991; địa chỉ: Khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  5. Nguyễn Văn G, sinh năm 1986; địa chỉ: Khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  6. Võ Thị Thu N1 (Võ Thị Kim Y), sinh năm 1976; địa chỉ: Khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  7. Hồ Thị C2 sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  8. Lê Văn B, sinh năm 1986; địa chỉ: Khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  9. Đỗ Thị H sinh năm 1964; địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  10. Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ I, ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  11. Nguyễn Anh T2, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  12. Phan Thị Đ (Út E), sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  13. Phan Văn Đ1 (L1), sinh năm 1956; địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  14. Lê Thị T3, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  1. Hồ Hồng P sinh năm 1998; địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  2. A SY GIAH, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  3. Ha Phi (Anh P1) sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  4. Huỳnh Hữu N2, sinh năm 1985; địa chỉ: xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
  5. Huỳnh Văn S1, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  6. Võ Thị Ú, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp S, xã K, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  7. Lý Thị Thanh H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  8. Lê Thanh M, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  9. Người tên C3 (Chưa xác định được họ, địa chỉ) (vắng mặt).
  10. Người tên P2 (Chưa xác định được họ, địa chỉ) (vắng mặt).
  11. Người tên N3 (Chưa xác định được họ, địa chỉ) (vắng mặt).
  12. Người tên G1 (Chưa xác định được họ, địa chỉ) (vắng mặt).
  13. Người tên G2 (Chưa xác định được họ, địa chỉ) (vắng mặt).

28. Ông Lê Văn T4, sinh năm 1968, địa chỉ: Ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).

29. Bà Nguyễn Thị Kim T5, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng: Trương Văn D1, Lê Văn T6, Dương Thị Mỹ N4 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9/2020, vợ chồng Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thị Hồng T1 mở cửa hàng mua bán vật liệu xây dựng và trang trí nội thất “Nguyễn C” tại ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang, thuê bị cáo Trần Thị Kim C làm nhân viên tư vấn bán hàng. Từ tháng 12/2020 đến tháng 8/2021, lợi dụng việc C1, T1 quản lý không chặt chẽ sổ thu nợ của khách hàng, nên bị cáo C tự ý thu tiền bán vật liệu xây dựng và đồ trang trí nội thất của 27 khách hàng, chiếm đoạt tổng cộng 650.692.000 đồng của C1, T1 để sử dụng vào mục đích cá nhân. Cụ thể: Đoàn Phi L 6.572.000 đồng, Trần Thị V 100.000.000 đồng, Phan Hữu N 20.314.000 đồng, Trương Thị K1 60.000.000 đồng, Nguyễn Văn G 28.000.000 đồng, Võ Thị Thu N1 (Võ Thị Kim Y) 16.152.000 đồng, Hồ Thị C2 78.000.000 đồng, Lê Văn B 10.000.000 đồng, Đỗ Thị H 29.000.000 đồng, Nguyễn Thị Ngọc S 31.400.000 đồng, Nguyễn Anh T2 40.000.000 đồng, Phan Thị Đ (Út Em) 25.000.000 đồng, Phan Văn Đ1 (Lượm) 8.000.000 đồng, Lê Thị T3 10.000.000 đồng, Hồ Hồng P 8.000.000 đồng, A SY GIAH 28.000.000 đồng, Ha P3 (Anh P1) 35.000.000 đồng, Huỳnh Hữu N2 2.500.000 đồng, Huỳnh Văn S1 19.553.000 đồng, Võ Thị Ú 27.000.000 đồng, Lý Thị Thanh H1 30.000.000 đồng, Lê Thanh M 11.315.000 đồng, người tên C5 2.090.000 đồng (Chưa xác định được họ, địa chỉ), người tên P2 6.966.000 đồng (Chưa xác định được họ, địa chỉ), người tên G1 9.500.000 đồng, người tên N3 4.600.000 đồng (Chưa xác định được họ, địa chỉ), người tên G2 4.000.000 đồng.Lời khai bị hại Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị Hồng T1; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lê Văn T4, Nguyễn Thị Kim T5 (cha, mẹ của bị can Kim C), Đoàn Phi L, Trần Thị V, Phan Hữu N, Trương Thị K1, Nguyễn Văn G, Võ Thị Thu N1 (Võ Thị Kim Y), Hồ Thị C2, Lê Văn B, Đỗ Thị H, Nguyễn Thị Ngọc S, Nguyễn Anh T2, Phan Thị Đ (Ú), Phan Văn Đ1 (L), Lê Thị T3, Hồ Hồng P, A SY G, Ha P3 (Anh P), Huỳnh Văn S1, Võ Thị U, Lý Thị Thanh H1, Lê Thanh M; người làm chứng Trương Văn D1 (chồng của bị can Kim C), Lê Văn T6, Dương Thị Mỹ N4, trình bày phù hợp với nội dung vụ án.

Ông T4, bà T5 đã thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T4, bà T5 cho T1 và C4 để trừ số tiền 650.692.000 đồng mà Kim C5 đã chiếm đoạt, T1 và C4 không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho Kim C.

Vật chứng thu giữ: 18 cuốn sổ tay tiền bán hàng của khách hàng do bị hại Nguyễn Thị Hồng T1 giao nộp (lưu hồ sơ vụ án).

Tại Cáo trạng số: 05/CT-VKSAG-P1 ngày 06/01/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Trần Thị Kim C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Thị Kim C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của bị hại Chủ hộ kinh doanh anh Nguyễn Văn C1 chị Nguyễn Thị Hồng T1 có mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T4 và bà Nguyễn Thị Kim T5 có mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng còn lại vắng mặt có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Kim C từ 08 năm đến 10 năm tù;

Về trách nhiệm dân sự, ông Lê Văn T4 và bà Nguyễn Thị Kim T5 đã thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T4, bà T5 cho bị hại anh Nguyễn Hữu C1 và chị Nguyễn Thị Hồng T1 để trừ số tiền 650.692.000 đồng mà bị cáo Kim C1 đã chiếm đoạt, T1 và C1 không yêu cầu bồi thường thêm; ông T4 và bà T5 không yêu cầu bị cáo Kim C trả lại nên không đề cập giải giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Kim C đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử bị cáo Trần Thị Kim C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự; thống nhất áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự điểm g khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Trần Thị Kim C mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị để tạo điều kiện cho bị cáo C sửa chữa lỗi lầm.

Bị cáo Trần Thị Kim C đồng ý bản luận cứ bào chữa, không bào chữa hoặc tranh luận bổ sung gì khác. Lời nói cuối cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Từ tháng 12/2020 đến tháng 8/2021, bị cáo Trần Thị Kim C lợi dụng việc Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thị Hồng T1 thuê làm nhân viên tư vấn bán hàng vật liệu xây dựng, đã nhiều lần tự ý thu tiền nợ của 27 khách hàng mua vật liệu xây dựng và trang trí nội thất của Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thị Hồng T1 chiếm đoạt tổng cộng 650.962.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thị Kim C đã phạm và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Trần Thị Kim C được quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

[3] Bị cáo C là người đã trưởng thành có sức khỏe, có khả năng lao động, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Lẽ ra, bị cáo phải tích cực lao động để tạo thu nhập nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình và nuôi con nhỏ. Nhưng không, bị cáo lại lười biếng lao động, không làm mà muốn có tiền tiêu xài, lợi dụng sự tin tưởng của bị hại C1 và T1 thuê bị cáo làm làm nhân viên tư vấn bán hàng vật liệu xây dựng, bị cáo đã nhiều lần tự ý thu tiền nợ của 27 khách hàng mua vật liệu xây dựng và trang trí nội thất của ông C1 và bà Hồng T1, không có khả năng trả lại tài sản cho bị hại, bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại một cách trái pháp luật, thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi của bị cáo C5 là nguy hiểm cho xã hội, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị Kim C đã thực hiện tội phạm nhiều lần nên phải chịu tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là lao động chính nuôi dạy hai con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản do bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình thuộc diện khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: ông Lê Văn T4 và bà Nguyễn Thị Kim T5 đã thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T4 và bà T5 cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị Hồng T1 để trừ số tiền 650.692.000 đồng mà bị cáo Trần Thị Kim C1 đã chiếm đoạt, ông C1 và bà T1 không yêu cầu bồi thường thêm và ông T4, bà T5 không yêu cầu bị cáo C trả lại nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Không.

[9] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 4 Điều 175; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim C 08 (tám) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/10/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Thị Kim C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cục thi hành án An Giang;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger