Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-PT

Ngày 18/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Thực.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương, ông Hoàng Tuấn Trọng.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 18/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/HSPT ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Vũ Đức Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Bị cáo có kháng cáo:

Vũ Đức Đ, sinh năm 1991.

Nơi sinh, cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Huy S (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; vợ: Phạm Thị B (đã ly hôn); con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo Đ bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024, tạm giam từ ngày 24/7/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Vinh H, Trịnh Ngọc H1, Vũ Đức Đ và Phạm Huy T đều làm công nhân tại Công ty Cổ phần B2 và nông nghiệp ở Khu công nghiệp P, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 19 giờ ngày 16/7/2024 sau khi H, H1, Đ và T cùng nhau ăn tối, uống bia xong thì rủ nhau cùng đi chơi điện tử “đế chế” ở quán I, thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên và thỏa thuận nếu ai thua thì phải mời những người còn lại hát Karaoke. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày H thua nên mời cả nhóm đi hát. H, Đ và H1 cùng đi bộ đến quán K ở thôn H, xã L (quán do anh Đỗ Văn H2, sinh năm 1990 ở thôn H, xã L làm chủ) ở để hát còn T đi về phòng trọ tắm. Khi cả ba đi đến quán K thì gặp Hà Đình Đ1 (là người được anh H2 thuê quản lý quán) và anh Quàng Đình N (là người được anh H2 thuê bưng bê, don dẹp quán) tại quần lễ tân. H đặt vấn đề thuê phòng hát thì Đ1 dẫn lên hát tại phòng Vip 3 tầng 4 của quán. Đến khoảng 21 giờ 20 phút, T một mình đến phòng Vip 3 hát cùng H, Đ và H1 sau đó T về trước. Sau khi T về, Đ sử dụng điện thoại Oppo A9 màu xanh, số thuê bao 0984013613 và 0984089351 nhắn tin qua zalo cho Quàng Thị Ngọc B1 (là nhân viên rót bia của quán) bảo B1 gọi thêm 02 nhân viên rót bia khác cùng B1 lên phòng Vip3 để rót bia. Đến khoảng 22 giờ 10 phút, B1 cùng với 02 nhân viên rót bia khác lên phòng VIP 3 để rót bia thì B1 được chọn ở lại rót bia, hát còn hai nhân viên khác không được chọn nên đi về. Sau đó, Đ1 sử dụng Facebook “Một Mét” gọi cho Nguyễn Thị Kim N1 qua Facebook “Thân Ngọc N2” được Đ1 lưu là “Đãng iu” để gọi N2 đến uống bia, hát cùng Đ1 tại quán K1, thì N2 đồng ý. Khoảng 22 giờ 50 phút, N2 đến, Đ1 và N2 lên phòng VIP 4 tầng 4 để hát và uống bia. Khoảng 23 giờ 25 phút cùng ngày, tại phòng VIP 3, Đ rủ H, H1 cùng sử dụng ma túy tổng hợp thường gọi là “kẹo” thì cả hai đều đồng ý. Do Đ, H1 không có tiền, chỉ có H đang có tiền trong tài khoản nên cả ba cùng bàn bạc, thống nhất H sẽ ứng tiền ra để mua 03 viên ma tuý tổng hợp, sau đó cả ba sẽ chia đều để trả tiền mua ma tuý, tiền thuê phòng hát và trả cho nhân viên sau. Sau đó, H sử dụng điện thoại Iphone 11 màu đen, số thuê bao 0334.212.236 truy cập tài khoản Zalo “Nguyễn H” nhắn tin đến Zalo “Một Mét” đăng ký số điện thoại 0334.212.xxx của Đ1 đặt vấn đề mua 03 viên ma túy tổng hợp thì Đ1 đồng ý bán và báo giá 500.000 đồng/01 viên. Đông nhắn tin số tài khoản 0961373027 mở tại Ngân hàng M3 mang tên Lường Thị N3 (là mẹ của N, hiện N đang sử dụng) cho H. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày H chuyển số tiền 1.500.000 đồng đến số tài khoản 0961373027 mở tại Ngân hàng M3 mang tên Lường Thị N3. Sau đó Đ1 bảo N chuyển lại số tiền 1.500.000 đồng từ số tài khoản 0961373027 vào ví điện tử MOMO của Đ1.

Đ1 khai: Sau khi nhận tiền, Đ1 liên hệ với T1 (chưa rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) qua Z của T1 là “Hết cách” hỏi mua của T1 04 viên ma túy tổng hợp thì T1 đồng ý bán với giá 400.000 đồng/01 viên và hẹn mang ma túy đến quán K1 cho Đ1. Đến 00 giờ ngày 17/7/2024, T1 một mình đi xe máy quán K1 để giao ma túy cho Đ1. Khi đến, T1 gặp N và Đ1 ở quầy lễ tân, sau đó T1 và Đ1 đi vào nhà vệ sinh tại tầng 1, tại đây T1 bán cho Đ1 04 viên ma túy tổng hợp với số tiền 1.600.000 đồng. Do Đ1 không có tiền mặt nên Đ1 bảo T1 cho số tài khoản để chuyển trả tiền mua 04 viên ma tuý nhưng T1 không cung cấp số tài khoản và nói với Đ1 cho nợ, trả tiền sau.

Khoảng 23 giờ 26 phút, H1 sử dụng điện thoại Iphone màu xanh, số thuê bao 0974379936 nhắn tin qua Mesenger cho Cụt Thị H3, (tên khi đi làm nhân viên dịch vụ rót bia là Đặng Phương L) bảo H3 đến phòng VIP 3 rót bia, hát cùng. Khoảng 23 giờ 38 phút, H3 đến phòng VIP 3 rót bia, hát cùng H1, H và Đ.

Sau khi mua được 04 viên ma thì Đ1 giữ lại 01 viên để Đ1 và N2 sử dụng tại phòng Vip4, còn 03 viên Đông mang sang phòng Vip3 đưa cho H. Lúc này, trong phòng có H, H1, Đ, B1. Sau đó, Đ1 quay lại phòng vip 4 cùng N2 sử dụng 01 viên ma túy bằng cách uống với nước Côcacola. Sau khi nhận được 03 viên ma tuý thì H chia cho H1, Đ mỗi người 01 viên, còn H giữ lại 01 viên để sử dụng bằng cách hoà vào cốc có chứa nước Coca rồi uống hết. H1 đã sử dụng hết 01 viên ma tuý. Đằng sử dụng ½ viên ma tuý, còn lại ½ viên thì để tại khe vách trang trí tường đối diện cửa ra vào phòng VIP 3 gần vị trí Đ ngồi, H3 và B1 có mặt tại phòng VIP 3 nhưng không sử dụng ma tuý. Khoảng 00 giờ 30 ngày 17/7/2024, Đằng nhắn tin qua M “Đằng V” đến tài khoản Messeger “Một Mét” của Đ1, rủ Đ1 và N2 sang phòng VIP 3 ngồi cùng cho vui thì Đ1 đồng ý rồi cùng N2 sang phòng VIP 3 ngồi cùng mọi người. Khoảng 00 giờ 50 phút cùng ngày, Đặng Thị M1, là nhân viên rót bia đến phòng VIP 3 để rót bia, hát theo yêu cầu của H. Khoảng 01 giờ 45 ngày 17/7/2024, khi Đ, H, H1, Đ1, N2, B1, H3, M1 đang ngồi tại phòng VIP 3 tầng 4 quán K1 thì tổ công tác của Công an huyện V kiểm tra, lập biên bản vụ việc, thu giữ vật chứng: ½ viên nén màu nâu, trên mặt có chữ “NL” tại khe vách trang trí tường đối diện cửa ra vào phòng VIP 3 tầng 4, được niêm phong trong phong bì thư dán kín đánh ký hiệu M1. 01 điện thoại Iphone 8 Plus, màu vàng, lắp sim số 0961373027 của Quàng Văn N4; 01 điện thoại Iphone màu xanh, lắp sim số 0974379936 của Trịnh Ngọc H1; 01 điện thoại Iphone X, màu trắng lắp sim số 0362871637 của Đặng Thị M1; 01 điện thoại Iphone 11, màu xanh lắp sim số 0826835562 của Nguyễn Thị Kim N1; 01 điện thoại Iphone XS, màu đen lắp sim số 0963904075 của Hà Đình Đ1; 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu đen, lắp sim số: 0975673048 của Cụt Thị H3; 01 điện thoại Iphone 6S Plus, màu hồng, lắp sim số 0327615523 của Quàng Thị Ngọc B1; 01 điện thoại OPPO A9 màu xanh, lắp sim số 0984013613 và 0984089351 của Vũ Đức Đ; 01 điện thoại Iphone 11 màu đen, lắp sim số 0334212236 của Nguyễn Vinh H.

Cùng ngày 17/7/2024 Cơ quan CSĐT - Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Đình Đ1 nhưng không thu giữ, đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Tại bản thông báo kết luận giám định số 515 ngày 17/7/2024 và Kết luận giám định số 515 ngày 20/7/2024 của phòng K2 Công an tỉnh H, kết luận: Chất dạng viên nén màu nâu trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối lượng là: 0,37 là ma túy, loại: MDMA. H4 lại mẫu vật giám định trong 01 niêm phong ghi 515/KL – KTHS (MT), bên trong gồm 0,340g ma túy, loại MDMA, trong niêm phong ghi ký hiệu M1 và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Cơ quan CSĐT - Công an huyện V đã nhập kho vật chứng chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 1215/QĐ-ĐTTH trưng cầu V1 - Bộ C giám định mẫu nước tiểu thu của Hà Đình Đ1, Trịnh Ngọc H1, Nguyễn Vinh H, Vũ Đức Đ, Nguyễn Thị Kim N1, Đặng Thị M1, Quàng Thị Ngọc B1, Cụt Thị H3 và Quàng Văn N4. Ngày 24/7/2024, V1 - Bộ C ban hành Kết luận giám định số 5508, kết luận: Mẫu nước tiểu gửi giám định của Trịnh Ngọc H1 dương tính với ma túy, loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine; Mẫu nước tiểu gửi giám định của Hà Đình Đ1, Nguyễn Vinh H, Vũ Đức Đ, Nguyễn Thị Kim N1 dương tính với ma túy, loại Methamphetamine, MDMA. Không tìm thấy chất ma túy trong các mẫu nước tiểu của Đặng Thị M1, Quàng Thị Ngọc B1, Cụt Thị H3 và Quàng Văn N4.

Đối với 01 điện thoại Iphone XS, màu đen thu của Hà Đình Đ1 và 01 điện thoại Iphone 11 màu đen thu của Nguyễn Vinh H. Quá trình điều tra xác định đều liên quan đến việc phạm tội. 01 điện thoại Iphone màu xanh thu của Trịnh Ngọc H1 và 01 điện thoại OPPO A9 màu xanh thu của Vũ Đức Đ. Quá trình điều tra xác định đều không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với 01 điện thoại Iphone 8 Plus, màu vàng thu của Quàng Văn N4. Quá trình điều tra xác định sau khi Hà Đình Đ1 nhờ số tài khoản 0961373027 mang tên Luong Thi N5 để chuyển số tiền 1.500.000 đồng vào thì N4 sử dụng chiếc điện thoại này để thao tác chuyển số tiền 1.500.000 đồng vào ví điện tử M2 trả Đông nhưng N4 không biết việc mua bán ma túy giữa H và Đ1. Tất cả các điện thoại nói trên Cơ quan CSĐT - Công an huyện V đã nhập kho vật chứng để chở xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 điện thoại Iphone 11, màu xanh thu của Nguyễn Thị Kim N1; 01 điện thoại Iphone 6S Plus, màu hồng thu giữ của Quàng Thị Ngọc B1; 01 điện thoại Iphone X, màu trắng thu của Đặng Thị M1 và 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu đen thu của Cụt Thị H3. Quá trình điều tra xác định đều không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 20/7/2024 và 12/11/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại nói trên cho chị N1, B1, M1 và H3.

Đối với số tiền 1.500.000 đồng H mua ma túy của Đ1. Quá trình điều tra xác định số tiền này là tiền thu lời bất chính mà có đang trong tài khoản ví điện tử Momo của Hà Đình Đ1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản tại Ngân hàng TMCP B3 (BV) số: 99MM24167M72255650 của Hà Đình Đ1 để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với số ma túy là 0,37g MDMA thu giữ nơi các bị cáo đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là viên ma túy mà Đ mới sử dụng ½, còn lại ½ chưa sử dụng hết thì bị phát hiện nên không có căn cứ xử lý đối với Đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với người nam thanh niên có tên là T1 (không rõ họ tên đệm cụ thể) Đ1 khai đã bán ma túy cho Hà Đình Đ1 ngày 16/7/2024 hiện cơ quan CSĐT - Công an huyện V chưa xác minh được lai lịch cụ thể nên tách ra để xác minh làm rõ sau.

Nguyễn Thị Kim N1 ngày 17/7/2024 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quán K tại thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính đối với N1 ngày 12/11/2024 với hình thức cảnh cáo.

Quàng Văn N4 là nhân viên bưng bê, dọn dép tại quán karaoke L1 nhưng không biết việc các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 3, không viết việc mua bán trái phép chất ma túy của Hà Đình Đ1 nên không có căn cứ để xử lý.

Các bị cáo Hà Đình Đ1, Nguyễn Vinh H5, Vũ Đức Đ và Trịnh Ngọc H1 đều thành khần khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu ở trên.

Tại bản cáo trạng số: 181/CT-VKS ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Hà Đình Đ1 về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Vinh H, Vũ Đức Đ và Trịnh Ngọc H1 đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

- Tuyên bố: Bị cáo Hà Đình Đ1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Vinh H, Vũ Đức Đ và Trịnh Ngọc H1 đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b, c Khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Đình Đ1. Xử phạt: Bị cáo Hà Đình Đ1 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 12 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vũ Đức Đ, Nguyễn Vinh H và Trịnh Ngọc H1. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Ngọc H1.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Vũ Đức Đ 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.
  • - Bị cáo Nguyễn Vinh H 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.
  • - Bị cáo Trịnh Ngọc H1 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/01/2025, bị cáo Vũ Đức Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Vũ Đức Đ giữ nguyên kháng cáo, thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân thực hiện hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vũ Đức Đ 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Đ xuất trình thêm một số tình tiết giảm nhẹ mới bao gồm: Đơn của mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị S1 trình bày về hoàn cảnh gia đình khó khăn, Bằng khen của chủ tịch UBND tỉnh T tặng ông Vũ Huy Nó là ông nội của bị cáo, Huy chương kháng chiến hạng nhì của bà Nguyễn Thị L2 là bà nội. Vì vậy đề nghị giảm một phần hình phạt cho Đ từ 1 đến 3 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Đức Đ đảm bảo về hình thức, trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2.]. Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản vụ việc, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, kết luận giám định cùng các vật chứng đã thu giữ. Có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 00 giờ ngày 17/7/2024, tại quán K1 ở thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Hà Đình Đ1 đã thực hiện hành vi bán trái phép 03 viên ma túy tổng hợp, loại MDMA cho Nguyễn Vinh H với số tiền 1.500.000 đồng, bố trí địa điểm do Đ1 quản lý để sử dụng trái phép ma túy. Sau khi mua được ma túy H cùng Vũ Đức Đ, Trịnh Ngọc H1, Hà Đình Đ1 cùng nhau tổ chức cho nhau cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra ngày 17/7/2024 tại quán K1, Đ1 còn tổ chức trái phép cho Nguyễn Thị Kim N1, sinh ngày 17/5/2009 cùng sử dụng ma túy.

Hành vi của bị cáo Hà Đình Đ1 tổ chức cho người dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời bố trí địa điểm; bán ma túy cho các bị cáo khác để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Đông về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với các bị cáo Nguyễn Vinh H, Vũ Đức Đ và Trịnh Ngọc H1 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là chính xác, không oan sai.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Đức Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Tình hình tệ nạn ma túy đang gây nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong cộng đồng dân cư. Việc sử dụng ma tuý ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của chính các bị cáo, phá vỡ các giá trị đạo đức tốt đẹp của con người và là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội cũng như các loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam với mức án thật nghiêm minh đối với các bị cáo.

Trong vụ án này, Đối với hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có đồng phạm tham gia thực hiện tội phạm, nhưng tính chất đồng phạm giản đơn, vai trò các bị cáo trong vụ án cụ thể như sau.

Bị cáo Đ1 là người bố trí địa điểm, là phòng hát karaoke do Đông quản lý để các bị cáo khác sử dụng ma túy, bị cáo Đ giữ vai trò là người khởi xướng tổ chức sử dụng ma túy, bị cáo H là người đứng ra giao dịch và trả tiền mua ma túy, bị cáo H1 là đồng phạm tích cực, cả ba bị cáo cùng nhau bàn bạc thống nhất mua ma túy và chia tiền, bị cáo H1 và Đ sẽ thanh toán sau cho H.

Bị cáo Đ1 phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với hai tình tiết định khung là điểm b, c khoản 2 Điều 255, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo H và bị cáo Đ mặc dù chỉ chịu một tình tiết định khung là điểm b khoản 2 Điều 255 nhưng là người khởi xướng và thực hiện hành vi tích cực hơn H1. Cả 3 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51; riêng Đ1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cấp sơ thẩm xác định vai trò của Đ1, Đ, H là ngang nhau và áp dụng mức hình phạt là 9 năm tù đối với cả 3 bị cáo là phù hợp.

Tại giai đoạn phúc thẩm, Đ xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới gồm đơn của mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị S1 trình bày về hoàn cảnh gia đình khó khăn bố mất sớm, còn vợ bị cáo thì đã ly hôn; cụ Vũ Huy Nó là ông nội của bị cáo được chủ tịch UBND tỉnh T tặng Bằng khen vì đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bà nội bị cáo là cụ Nguyễn Thị L2 được Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo để giảm nhẹ một một phần hình phạt cho Đ.

Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa được chấp nhận.

[3]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đ kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Đức Đ. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vũ Đức Đ.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức Đ 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.

2. Về án phí phúc thẩm:

Bị cáo Vũ Đức Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Tuấn Trọng

Phạm Trung Thực

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 13/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: v Đ Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger